Tác giả: Marcel SOUBRIER
Người dịch: Việt Hà
Hình ảnh: trích từ phim tài liệu “Sơn mài ở Châu Á” của Monoko Seto.
Xem phim tài liệu tại đây: https://images.cnrs.fr/video/2183
Cùng với cây tre và cây chè, từ lâu cây sơn ta đã trở thành người bạn đường của người Việt Nam trên suốt chiều dài lịch sử.
Nếu cây tre mang lại rường cột dựng nhà, cây chè giúp xây dựng những nghi thức của một nền nếp sinh hoạt cùng khả năng chế ngự cơ thể, cây sơn ta không chỉ có công lớn đối với riêng nền nghệ thuật của người Việt, mà còn hỗ trợ họ trong mọi mặt của đời sống thường ngày.
Cung điện, lăng tẩm, chùa miếu với những cột trụ, những cổng cửa sơn son thếp vàng rực rỡ trên nền đen thẳm – tất cả những vẻ đẹp, nét uy nghi, biểu lộ tinh tế ấy đều có được nhờ vào cây sơn.
Trong dân gian, hành nghìn vật dụng thường ngày được phết sơn để gia cố và có thể lưu dùng lâu hơn. Người ta dùng sơn để bồi thuyền, từ những chiếc thuyền tam bản mỏng nhẹ cho đến những thuyền chiến lớn. Sơn ta giúp mài nhẵn các công cụ đong đo ngũ cốc của người Việt thời xưa, và cũng có tác dụng giúp phần kiếm cách được gắn chặt vào thành kiếm. Đồ gồ trong nhà, đồ thờ cúng, tráp hộp, trống chầu đều nhờ sơn ta mà có được cho mình những nét đẹp và điểm độc đáo riêng.

Lịch sử của sơn mài
Từ Trung Quốc, người Việt Nam của thế kỷ thứ III đã học được những bí quyết trong nghệ thuật sơn mài. Cho tới thời điểm đó, họ chủ yếu mới chỉ biết dùng nhựa của cây sơn để bồi thuyền tam bản, hoặc dùng để chống thấm cho các dụng cụ nhà bếp.
Chỉ Trung Hoa mới có được những bí kíp ấy, mà “Thiên Triều” cũng canh giữ chúng hết sức cẩn mật, cho tới khi một viên quan người Việt nọ, trong một lần đi xứ, đã rất khôn khéo lén trộm về. Những chỉ dẫn mà ông gom góp lại ngày ấy đã đủ để xây dựng một nền sản xuất sơn mài trang trí và sơn mài ứng dụng cho nước Việt Nam.
Sau nhiều thế kỷ, nền sản xuất này đã phát triển rộng ra cả nước. Nghề làm sơn mài truyền thống giờ được truyền thụ từ cha sang con, từ phường hội sang phường hội, từ thôn làng nhỏ đến vùng miền rộng lớn. Các vua nước Việt còn tặng tước hiệu, trao đất phong cho các thợ sơn mài. Trải qua nhiều thế hệ, sơn mài đã trở thành một ngành nghệ thuật. Người hoạ sĩ xưa và nay đều tiếp nhận nghệ thuật này từ những người thợ thủ công.
Ngay từ đầu thế kỷ, việc sử dụng sơn ta đã có đạt được sự phát triển vượt bậc. Trường Đại học Mỹ thuật tại Hà Nội đã đào tạo nhiều hoạ sĩ vẽ tranh sơn mài. Nghệ thuật tạo hình trong hội hoạ sơn mài giờ đã trở thành một phần của thực hành hiện đại.
Sơn mài từ đâu mà có? Cây sơn lấy nhựa sinh trưởng trong tự nhiên, từ những thời kì xa xưa, ở miền Bắc Việt Nam. Vùng đặc thù của cây sơn nằm ở dọc các thung lũng thuộc lưu vực sông Hồng. Từ khi nền thủ công nghiệp sơn mài trở thành một nghề truyền thống, cây sơn lấy nhựa mới được canh tác có hệ thống. Cây mọc trên diện tích hàng trăm kilomet vuông, trên những sườn thoải xanh rờn một vùng. Trong số các giống cây sơn, nổi danh nhất là loại được trồng ở miền bắc Việt Nam.
Vụ thu hoạch mỗi năm bắt đầu vào mùa thu, từ cuối tháng chín tới cuối tháng mười. Nhựa cây thu được từ việc rạch vỏ cây – một đường rạch nhỏ và mỏng – rồi thu vào lòng vỏ trai vỏ ốc, trước khi được dồn vào những cái bát bằng gỗ.
Chất nhựa sau đó được thu lại và giữ trong những chiếc giỏ lớn bằng tre, được đan rất kín.
Công việc thu hoạch thực hiện khi trời vừa sáng. Để thu được nhiều nhựa chất lượng tốt, việc trích mủ phải được hoàn thành trước khi mặt trời mọc, vào thời điểm mà cây đồi vẫn còn ướt sương buổi sớm.
Nhựa khi thu được cũng phải được bảo vệ khỏi ánh sáng mặt trời. Các giỏ chứa nhựa phải được đậy nắp kín. Nhựa cây được trữ như vậy được gọi là “nhựa thô”.
Quả trình gạn lọc sẽ được thực hiện ở nơi không có ánh sáng mặt trời. Cuối cùng, ba lớp sơn tách biệt sẽ xuất hiện: sau khoảng nghỉ dài, ở tầng phía trên cùng sẽ tách ra một chất dầu có màu vàng ngả sang nâu sáng. Đây là lớp dầu sơn ở bề mặt, là phần sơn được dùng cho sơn mài và có tính chất cực kì mẫn cảm với ánh sáng. Phần dầu này được tách ra và gạn lọc riêng, sau sẽ được dùng để tạo nên các loại dầu quang (véc-ni) có độ bóng rất cao.
Những phần vật chất nặng hơn sẽ tách ra khỏi tầng dầu phía trên và lắng xuống phần dưới của tgiỏ đựng. Tuỳ vào mức độ mà chúng sẽ được xếp vào “sơn loại 2” hoặc “sơn loại 3”. Những loại sơn này sẽ được hoạ sĩ-nghệ sĩ hoặc nghệ nhân dùng làm sơn lót.
Ba loại son được gạn lọc, nhào trộn, phân loại riêng và sẽ trở nên dễ sử dụng hơn sau khi được hoà lẫn cùng với các loại dầu khác: nhựa thông, dầu trẩu, những hỗn hợp mang lại sắc đỏ tươi hay đen đậm rất nổi bật cho sơn.

Sơn mài – khái quát kỹ thuật
Hội hoạ sơn mài giờ đây đã phát triển vượt bậc. Nhờ vào quá trình khảo nghiệm lâu dài, kỹ thuật sử dụng sơn đã ngày càng trở nên vững chắc.
Việc khám phá ra rằng sơn có thể được mài, được đánh bóng, có một vai trò then chốt. Việc hoà trộn sơn với các chất khác cũng có thể được thực hiện. Kết quả là hiện nay, người hoạ sĩ sơn mài sở hữu một gam màu không hề thua kém so với người hoạ sĩ vẽ tranh trên toan giấy. Tác phẩm sơn mài còn có thêm chiều sâu, ấm áp hơn, sống động hơn. Mọi hiệu ứng đều khả thi: các tia sáng, gợn sóng lấp lánh của mặt nước, những phản chiếu thay đổi của cảnh vật, tất cả những gì đa dạng và phong phú nhất của tự nhiên đều có thể được tái hiện một cách trung thực.
Việc sử dụng bụi vàng hay bụi bạc, vỏ trứng rạn đã mang lại một gam màu kim quang rực rỡ, giàu sức lan toả và tương phản. Tranh sơn mài vì thế mà thật sinh động và ấm áp.
Là một môn nghệ thuật giữa các môn nghệ thuật, hội hoạ sơn mài được thực hiện với một kỹ thuật hết sức công phu. Việc chuẩn bị chất liệu, vóc, quá trình mài – đúng hơn là những quá trình mài – đều yêu cầu một sự kiên nhẫn vô hạn. Trong nhánh này của nghệ thuật, không có gì có thể thay thế bàn tay con người và sự tiếp xúc với cơ thể con người. Quả nhiên, nghệ thuật sơn mài đến từ Trung Hoa, một nơi mà thời gian không có ý nghĩa gì cả. Ta sẽ không bàn đến những chi tiết trong việc chuẩn bị cho một bức tranh sơn mài. Hãy chỉ nói rằng việc này bao gồm hai công đoạn: trước tiên chuẩn bị phần vóc và sau đó là vẽ tranh – tức là đi nét, đắp màu sơn, phối hợp các lớp mài liên tiếp nhau, và cuối cùng là đánh bóng. Từ viên đá mài cho đến những sợi tóc mỏng đều được sử dụng trong các thao tác mài và đánh bóng tranh.
Thời gian và sự kiên nhẫn được đặt lên ngang hàng với tài năng của người hoạ sĩ trong quá trình tạo nên vẻ đẹp và giá trị của một bức sơn mài “đẹp”. Xin hãy nghĩ tới cái tỉ mẩn không mệt mỏi mà nó đòi hỏi ở người tác giả.
Mỗi hoạ tiết, mỗi bố cục cũng cần đến hơn hai mươi lớp sơn, phải chờ hơn mười ngày cho mỗi lớp, chưa kể thời gian chờ tranh khô còn dao động tuỳ vào độ ẩm trong không khí.
Rồi sẽ đến lúc tranh sơn mài đạt được vị thế hàng đầu trong nghệ thuật hiện đại. Nhờ vào bản chất trường tồn với thời gian của chất liệu, những bức tranh sơn mài còn ẩn chứa một suy niệm triết học, nếu như ta cân nhắc tới đến sự phát triển của chúng qua cả ngàn năm qua.

Vui lòng dẫn nguồn cụ thể khi chia sẻ bài viết từ Artinsight. Khi sử dụng bài viết cho mục đích thương mại, liên hệ qua địa chỉ artinsight.vn@gmail.com.
Donate to Artinsght: Để Artinsight có thể xuất bản nội dung chất lượng, duy trì và phát triển bền vững, đóng góp nhiều giá trị, hãy donate cho chúng tôi tại đây: DONATE. Chân thành cảm ơn.





