Tác giả: Codet Hanoi
Trình bày ảnh: Sơn Ca
Cuộc đời vua Hàm Nghi (1871–1944) là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử chính trị và nghệ thuật Việt Nam. Sau giai đoạn lãnh đạo phong trào Cần Vương (1885–1888), ông bị lưu đày sang Algeria và tại đây, cựu hoàng đã tiếp nhận giáo dục mỹ thuật phương Tây bài bản. Không chỉ là biểu tượng của tinh thần yêu nước, Hàm Nghi là vị vua đầu tiên của Việt Nam tiếp nhận hội họa phương Tây để biểu đạt tâm hồn phương Đông và được ghi nhận là một trong những nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên thực hành hội họa, điêu khắc theo các trường phái Ấn tượng và Hậu ấn tượng. Việc nghiên cứu di sản của ông hiện nay không chỉ dừng lại ở góc độ lịch sử mà còn mở rộng sang giá trị mỹ thuật cận đại.

Nguồn: www.aleaudevichy.com
TỪ CẬU THIẾU NIÊN BÊN LỀ TỚI VỊ QUÂN VƯƠNG NƯỚC NAM
Vua Hàm Nghi (1871–1944), tên húy Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là con trai thứ năm của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai với bà phủ thiếp Phan Thị Nhàn. Trong bối cảnh vua Tự Đức không có con nối dõi, nên đã nhận ba con trai của Kiên Thái Vương làm con nuôi và đưa vào cung giáo dưỡng là Ưng Chân (vua Dục Đức), Ưng Đường (vua Đồng Khánh), Ưng Đăng (vua Kiến Phúc). Khác với các anh cùng cha khác mẹ của mình vốn được thụ hưởng vinh hoa và lễ nghi nghiêm ngặt nơi cung cấm, Ưng Lịch không nằm trong sự lựa chọn của hoàng cung. 5 tuổi, cha mất, Ưng Lịch trải qua một tuổi thơ lặng lẽ, thậm chí là thiếu thốn tại một căn nhà ngoại ô ven kinh thành Huế với mẹ. Chính sự tách biệt với nhung lụa và cuộc sống dân dã đã khiến Ưng Lịch có một tính cách thuần hậu, giản dị nhưng có cốt cách của một vị quân tử minh bạch.
Sống trong hoàn cảnh thanh đạm và gần như đứng bên lề những vòng xoáy quyền lực, không ai có thể ngờ, cậu bé Ưng Lịch rụt rè ngày ấy lại được lịch sử lựa chọn để trở thành vị hoàng đế thứ 8 của triều Nguyễn với tên hiệu Hàm Nghi. Việc lớn lên bên ngoài hoàng thành như một dân thường, khiến ông có lối sống khác biệt với những vị hoàng tử sớm được bao bọc trong nhung lụa nội cung. Cuộc đời của ông có nhiều biến cố và sóng gió. Việc đột ngột bị đẩy lên ngôi vị cao nhất giữa lúc nội chính đang rối ren và nạn ngoại xâm mạnh mẽ, đã khiến một thiếu niên mới 13 tuổi buộc phải trưởng thành quá sớm theo thời thế. Những biến cố của đất nước như sự xâm lược, cai trị của Pháp, cộng thêm âm mưu của các phe phái xung quanh đã hun đúc nên một Ưng Lịch từ một cậu thiếu niên ngơ ngác, rụt rè, có đôi phần hoảng sợ, dần trở thành một vị vua quyết liệt, khẳng khái, đồng cam cộng khổ với thần dân, có ý chí và tinh thần yêu nước, được đông đảo nhân dân ủng hộ.
Trước hết, phải nhắc tới khoảng thời gian từ năm 1883-1884, đây là giai đoạn đánh dấu thời kỳ đen tối và rối ren nhất của vương triều Nguyễn. Sau khi vua Tự Đức băng hà vào tháng 7.1883, triều đình không chỉ đối mặt với sức ép quân sự nghẹt thở từ thực dân Pháp, mà còn rơi vào vòng xoáy thanh trừng nội bộ khốc liệt. Sự kiện này đã dẫn đến một “biến cố chưa từng có” trong lịch sử quân chủ Việt Nam, chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm, ngai vàng đã phải thay chủ tới 3 lần. Sự bất ổn kinh hoàng này bắt nguồn từ mâu thuẫn gay gắt giữa hai phe chủ hòa và chủ chiến. Đứng đầu là hai quan Phụ chính Đại thần đầy quyền lực: Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Hệ quả là ba vị vua kế tiếp nhau đều chung một số phận bi thảm. Vua Dục Đức bị phế truất và băng hà sau vỏn vẹn ba ngày lên ngôi. Vua Hiệp Hòa trị vị được 4 tháng thì băng hà. Vua Kiến Phúc, anh cùng cha khác mẹ với vua Hàm Nghi, băng hà sau 8 tháng trị vì với nhiều nghi vấn lịch sử chưa có lời giải. Dân gian đã đúc kết qua hai câu vè: “Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết/ Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường” (Một dòng sông mà hai nước thật khó phân định/Bốn tháng thay ba vua, là điềm báo chẳng lành).

Ngày 6.6.1884, triều Nguyễn chính thức ký kết Hòa ước Patenôtre (hay còn gọi là Hòa ước Giáp Thân) với thực dân Pháp. Đây là một văn bản pháp lý mang tính xóa bỏ quyền lực cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam với tư cách vương triều độc lập. Hòa ước Patenôtre đặt triều Nguyễn vào khuôn khổ bảo hộ của Pháp, đồng thời mở ra một cuộc khủng hoảng quyền lực sâu sắc trong triều đình Huế. Chính trong bối cảnh lịch sử ấy, ngày 2.8.1884, bất chấp sự giám sát của người Pháp, hai vị đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã đưa Ưng Lịch lên ngôi vua ở tuổi 13 với niên hiệu Hàm Nghi. Vị vua trẻ đã trở thành niềm hy vọng cuối cùng của phái kháng chiến với hy vọng ông sẽ là thủ lĩnh lãnh đạo nhân dân chống lại thực dân Pháp, nhằm cứu vãn nền độc lập dân tộc.
Tuy nhiên, lễ đăng quang đưa vua Hàm Nghi lên ngôi diễn tại điện Thái Hòa đã vấp phải sự phản đối quyết liệt từ Khâm sứ Pháp Rheinart. Phía Pháp cho rằng, việc lập vua mới mà không thông qua sự đồng ý của chính phủ bảo hộ, là vi phạm tinh thần Hòa ước Patenôtre. Quan Phụ chính Nguyễn Văn Tường đáp lại với phía đại diện Pháp rằng trong Hòa ước Giáp Thân, không có điều nào đề cập rằng việc lập vua phải có sự đồng ý của Pháp. Ở điều 5, quan Khâm sứ chỉ có quyền quản lý công việc ngoại giao của Đại Nam, đảm bảo việc bảo hộ được diễn ra suôn sẻ, không được can thiệp vào công việc của các tỉnh trong địa giới. Quan Khâm sứ đại thần sẽ ở trong Kinh thành Huế và có quân đội bảo vệ. Ngoài ra, quan Khâm sứ được quyền trực tiếp diện kiến nhà vua. Cuộc tranh luận pháp lý này không chỉ là sự bảo vệ nghi lễ cung đình, mà là đòn đáp trả đầu tiên của triều đình Hàm Nghi với chính quyền thực dân. Việc chọn người, và khẳng định quyền tự quyết trong việc chọn người kế vị đã cho thấy ý chí kháng cự âm thầm nhưng quyết liệt của phái chủ chiến.
Trước diễn biến như vậy, khâm sứ Rheinart tỏ thái độ phản đối. Cuộc tranh luận rơi vào bế tắc, không bên nào nhượng bộ bên nào. Để giải quyết việc này, chính phủ Pháp đã quyết định can thiệp bằng sức mạnh quân sự. Tướng Millot được điều động cùng một trung đoàn tiến vào kinh đô Huế, đồng thời vũ khí là hai cỗ đại bác đặt ngay trước cửa thành để uy hiếp triều đình và hẹn sau 12 giờ phải tổ chức lại lễ đăng quang của Hàm Nghi. Dưới áp lực này, một giải pháp thỏa hiệp đầy căng thẳng đã được thiết lập. Vào 9h sáng ngày 17.8.1884, triều đình Huế buộc phải tổ chức lại lễ đăng quang cho vua Hàm Nghi với sự hiện diện bên phía Pháp. Buổi lễ diễn ra dưới sự giám sát của Đại tá Marcel Guerrier, Khâm sứ Rheinart cùng 25 sĩ quan và 160 lính Pháp có trang bị vũ khí.
Đại tá Guerrier đã thay mặt chính phủ Pháp đọc bài diễn văn do Rheinart soạn thảo, chính thức công nhận Ưng Lịch là Hoàng đế của nước Đại Nam. Như vậy, Hàm Nghi là một vị vua có lịch sử đăng quang hai lần, và cho dù lên ngai vàng dưới sự uy hiếp của quân đội thực dân Pháp, nhưng ngọn lửa kháng chiến đã bắt đầu nhen nhóm, và lịch sử lại một lần nữa, sắp xếp cho ông trở thành thủ lĩnh của phong trào Cần Vương, viết nên những chương sử đầy biến động của vương triều Nguyễn sau này.

Nguồn: https://www.bbc.com
TRẬN CHIẾN KINH THÀNH HUẾ 1885 VÀ CHIẾU CẦN VƯƠNG
Trải qua gần một năm triều Nguyễn nằm dưới sự “bảo hộ” của chính quyền Pháp, không khí tại kinh thành Huế vẫn đang trong giai đoạn căng thẳng. Vua Hàm Nghi “trị vì” tại triều đình luôn sự bày tỏ thái độ phản kháng với thực dân Pháp. Ông dùng sự im lặng và những hành động để khẳng định chủ quyền như không tiếp đón, hoặc khá lạnh nhạt với các quan chức người Pháp. Ông luôn giữ vẻ uy nghiêm, không tỏ ra thỏa hiệp với các yêu sách của khâm sứ Pháp. Chính những thái độ này cũng khiến người Pháp sớm nhận ra đây không phải là vị vua “bù nhìn” dễ sai bảo.
Trong khi đó, phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu vẫn âm thầm tích trữ lương thực, chuẩn bị khí giới, bày binh bố trận để bảo vệ kinh đô Huế. Một sự kiện được cho là quan trọng đã xảy ra, đó là Pháp và triều nhà Thanh đã ký Hòa ước Thiên Tân 1885. Hòa ước này buộc nhà Thanh phải rút quân ra khỏi Bắc Kỳ, chấm dứt lệ triều cống lâu đời và đẩy nhà Nguyễn vào thế đơn độc trước sự kiềm tỏa của người Pháp. Đúng vậy, sau khi tạm thời dẹp được chướng ngại là nhà Thanh, Pháp đẩy mạnh việc xâm lược nước Nam. Theo “Việt Nam Sử lược” của sử gia Trần Trọng Kim, bước ngoặt xảy ra vào ngày 18.4.1885 khi Thống tướng De Courcy được bổ nhiệm làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. Sau khi đến Bắc Kỳ để tìm hiểu tình hình, vào tháng 7/1885, tướng De Courcy đã quyết định đem một tiểu đoàn quân viễn chinh gồm 19 sĩ quan và 1024 binh lính tiến vào Huế, nhằm hạ uy tín của vị vua trẻ Hàm Nghi và các đại thần và buộc triều Nguyễn phải “nghe lời”. Những yêu sách của tướng De Courcy như: Đòi vua Hàm Nghi rời ngai vàng để đích thân đón ông ta, yêu cầu để toàn bộ đoàn tùy tùng của Pháp phải được vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn, cửa giữa vốn chỉ dành cho nhà vua. Khi Tôn Thất Thuyết cáo ốm để tránh cuộc gặp mặt, De Courcy đã đưa ra một mệnh lệnh mang tính lăng mạ: “Dù Thuyết có ốm cũng phải nằm cáng sang đây”. Chính sự khiêu khích, thiếu tôn trọng với quốc thể của viên tướng này khiến cho phe chủ chiến nhận định rằng không còn con đường thỏa hiệp nào khác, họ quyết định ra tay trước để giành thế chủ động.

Tại triển lãm “Hàm Nghi, nghệ thuật chốn lưu đày” tại Nice, năm 2022. Ảnh Sơn Ca
Đêm mùng 5 tháng 7 năm 1885, tiếng súng thần công từ kinh thành Huế hướng về phía tòa Khâm sứ và Đồn Mang Cá đã nổ súng vang, mở màn cho sự kiện trận chiến Kinh thành Huế. Quân Pháp phản công lại mạnh mẽ khiến quân Nam thua trận. Kinh thành Huế thất thủ và bị Pháp đốt phá, cướp nhiều tài sản quý, nhiều người dân bị tàn sát. Vua và quan quân chạy khỏi kinh thành lúc bằng ngựa, lúc đi bộ tới Tân Sở, Quảng Trị. Sau khi kinh thành thất thủ, Pháp chính thức phế truất vua Hàm Nghi, đưa Đồng Khánh lên ngôi. Nhà vua trẻ bắt đầu cuộc sống của một vị quân vương không còn ngai vàng, chịu gian truân giữa núi rừng hiểm trở, sương gió miền núi, thời tiết khắc nghiệt, thiếu thốn ở vùng kháng chiến Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị. Ông bị Pháp truy lùng và treo thưởng cho ai bắt được với giá 500 lạng bạc. Tuy bị truy tìm gắt gao, trải qua nhiều tình huống nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ông đã vượt qua và cùng với các quan đại thần tuyển mộ binh lính để chuẩn bị những cuộc kháng chiến chống Pháp thực sự.
Ngày 13.7 và ngày 20.9.1885, Hàm Nghi và các quan đại thần của mình 2 lần tuyên chiếu Cần Vương tại Quảng Trị và Hà Tĩnh. Đây là hai tờ chiếu có nội dung “Lệnh dụ thiên hạ Cần vương” mạnh mẽ trong lịch sử giữ nước, là lời kêu gọi sĩ phu và dân chúng toàn quốc nổi dậy chống lại sự đô hộ của người Pháp. Đáp lại lời kêu gọi, đông đảo sĩ phu và nhân dân đã tự nguyện đứng dưới ngọn cờ của vị vua trẻ, biến phong trào Cần Vương thành một làn sóng kháng Pháp rầm rộ và lan rộng khắp nơi.
Sau 3 năm trời kháng chiến gian khổ chống Pháp, cho dù vua Đồng Khánh có nhiều lần xuống dụ kêu gọi trở về kinh đô với lời hứa hẹn một cuộc sống vinh hoa, nhưng vua Hàm Nghi vẫn giữ lập trường cứng cỏi. Với lòng tự trọng, ông quyết liệt khước từ mọi cám dỗ, thà chấp nhận cảnh nếm mật nằm gai giữa đại ngàn, thậm chí phải lánh nạn sang Lào, còn hơn nằm trong vòng kiểm soát của người Pháp. Đại tá F. Bernard trong tác phẩm “L’Indochine, erreurs et dangers, Paris, 1911” (Đông Dương, một nền thuộc địa nhập nhằng) đã có một nhận định đầy trọng lượng khi cho rằng: “Hoàng đế Hàm Nghi đang lánh ngoài Quảng Bình, trong con mắt của quần chúng, chính là hiện thân cho Tổ quốc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm”.

Phải: Vua Hàm Nghi và quan phụ chính Tôn Thất Thuyết dẫn dắt phong trào kháng chiến chống thực dân. Tác giả: Nguyễn Văn Cẩm (Kỳ Đồng).
Nguồn: amis-musee-cernuschi.org
BỊ PHẢN BỘI VÀ BỊ LƯU ĐÀY
Lịch sử phong trào Cần Vương đã ghi lại một biến cố đầy bi kịch vào đêm 30.10.1888 (có nơi ghi nhận sự việc manh nha bắt đầu từ cuối tháng 9.1888). Đây là thời điểm mà sự kiên cường của triều Nguyễn dưới sự lãnh đạo của vua Hàm Nghi và phe chủ chiến đã bị dập tắt không phải bởi phản kháng trực tiếp, mà là do một sự phản bội từ bên trong. Hai tên cận thần Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đình Tình vốn là những kẻ thuộc đội cận vệ thân tín của vua Hàm Nghi, chúng đã bị quân Pháp mua chuộc nên làm phản, dẫn người vây bắt nhà vua tại căn cứ vùng núi Quảng Bình. Trong cơn biến loạn, ba cận thần trung thành của vua bị sát hại. Khoảnh khắc bị bao vây giữa những họng súng, nhà vua nhìn thẳng mặt kẻ phản bội mà thét lớn: “Mi giết ta đi còn hơn mang ta nộp cho Tây”. Năm ấy, ông mới 17 tuổi, độ tuổi thanh xuân của người thanh niên bắt đầu trưởng thành, nhưng với ông, đó lại là thời điểm bắt đầu một hành trình lưu đày vĩnh viễn, khép lại một chương oanh liệt trong lịch sử kháng chiến tại quê nhà, để mở ra một chương khác, cuộc kháng chiến trong nội tâm nơi viễn xứ.
Hành trình dẫn giải vị vua trẻ kéo dài ròng rã suốt nhiều tháng trời mới về tới Huế vào ngày 14.11.1888. Lo sợ tinh thần yêu nước của nhân dân sẽ trở thành cuộc nổi loạn nếu nhà vua còn ở trong nước, nên Pháp đã quyết định lưu dày ông sang tận Algerie. Theo đề nghị của vua Đồng Khánh, toàn quyền Pháp Richaud đã chuẩn y khoản trợ cấp 4.981 đồng bạc mỗi năm cho vua Hàm Nghi cùng chi phí cho những người hầu cận ông sang xứ người ở châu Phi. Giây phút cuối trên đất mẹ, vua Hàm Nghi đã đưa ra một quyết định, dù được phép, nhưng ông khước từ việc gặp mặt mẹ và người thân để giã biệt, bởi ông không muốn để hình ảnh một vị vua thất thế trong lòng người thân. Câu nói cuối cùng của ông trước khi xa rời đất nước, như một nỗi đau nghẹn ngào: “Ta thân đã tù tội, nước đã mất, còn dám nghĩ chi đến cha mẹ, anh chị em nữa!”
Chiều 13.12.1888, từ cảng Thuận An, thực dân Pháp áp giải vua Hàm Nghi xuống tàu chiến Biên Hòa để bắt đầu cuộc lưu đày viễn xứ sang Algerie. Đây là cách tính toán của Pháp nhằm chặt đứt phong trào Cần Vương một cách triệt để. Giây phút con tàu dần xa rời bến cũ, vị quân vương trẻ tuổi nhìn lại đất nước một lần nữa, không kìm được nỗi đau nước mất nhà tan, ông chợt rơi nước mắt. Sau nửa tháng bị giam lỏng tại Sài Gòn để hoàn tất thủ tục pháp lý, ông chính thức bị lưu đày, xa rời khỏi lãnh hải tổ quốc. Để xoa dịu dư luận, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương đã yêu cầu Bộ Thuộc Địa chỉ thị cho chính quyền Algeria phải đối xử tử tế với ông, lúc này, về mặt danh nghĩa, ông không còn giữ tước vị Hoàng đế mà được người Pháp và Algeria gọi bằng danh xưng: Le Prince d’Annam (Hoàng thân An Nam).
Sau hành trình gần ba tháng lênh đênh trên đại dương, vượt qua những cơn say sóng và bạo bệnh, ngày 13.1.1889, vua Hàm Nghi đã đặt chân tới thủ đô Algiers đúng ngưỡng cửa của tuổi 18. Tháp tùng ông trong cuộc đời lưu vong có ba người: Một thông ngôn, một đầu bếp, một tùy tùng. Trong 10 ngày đầu tiên, ông được bố trí lưu trú tại L’Hôtel de la Régence (Tòa nhiếp chính). Mọi việc tiếp đón và quản lý ông do Đại úy Henri de Vialar, sĩ quan tùy tùng của Thống đốc toàn quyền tại Algeria phụ trách. De Vialar không chỉ giám sát về an ninh, mà còn là người trực tiếp điều phối các hoạt động xã hội của nhà vua, để đảm bảo ông không liên lạc với các phong trào yêu nước tại Đông Dương.
Sau đó, vua Hàm Nghi được đưa về ở tại vùng đồi vắng vẻ Mustapha Superieur. Ngôi biệt thự đầu tiên của vua hàm Nghi trên đất Algeer mang tên Villa des Pín (Biệt thự Tùng Hiên) tọa lạc tại làng El Biar. “Tùng Hiên” là cái tên gọi mang đậm cốt cách Nho giáo, cây Tùng vốn tượng trưng cho người quân tử, điều này cho thấy dù ở nơi xứ người nhưng nhà vua vẫn hướng về các giá trị truyền thống của người nước Nam.
Chính không gian tĩnh lặng, biệt lập của ngôi biệt thự này, đã trở thành trạm nghỉ dừng chân đầu tiên cho ông. Sau này, làng El Biar cùng những rặng tùng ở đây sẽ trở thành nguồn cảm hứng xuất hiện trong nhiều bức họa của nhà vua như một biểu tượng cho sự hoài niệm giữa cảnh đời ly hương.

Nguồn: https://thanhnien.vn
KHỦNG HOẢNG VÀ THÍCH NGHI
Tha hương nơi xứ người, tương lai mờ mịt đầy lo lắng, vua Hàm Nghi sống lặng lẽ thu mình tại biệt thự Tùng Hiên và hầu như không muốn giao tiếp với ai. Ngày 21.1.1889, vua Hàm Nghi đau đớn khi nhận được tin mẹ mất mà ông không thể về chịu tang, báo hiếu. Chỉ một tuần sau, ngày 28.1.1889, vua Đồng Khánh (người anh cùng cha khác mẹ của vua Hàm Nghi) băng hà, vua Thành Thái, vị vua thứ 10 lên ngôi.
Ghi nhận về giai đoạn khủng hoảng này, bác sĩ quân y đồng thời là nhà báo Jean Hocquard đã miêu tả một Hàm Nghi rơi vào tình trạng bất ổn do những biến cố trong cuộc đời. Từ bị thuộc cấp phản bội, đến sự ra đi của mẹ và anh, không biết ở quê nhà, tình cảnh gia đình, đất nước ra sao, nhà vua cảm thấy bất an. Ông luôn lo sợ mình bị đầu độc nên chỉ ăn những món giản đơn do người của mình nấu. Tuy nhiên chính trong sự tận cùng tại vùng đất El Biar này, những hạt mầm nghệ thuật đầu tiên đã nảy nở, những rặng tùng đã trở thành chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm hội họa của ông, đánh dấu sự chuyển hóa từ một vị vua bị lưu đày sang nghệ sĩ Tử Xuân tài hoa.
Những ngày đầu tại xứ Algiers, vua Hàm Nghi đã chọn “sự im lặng” làm vũ khí cuối cùng để bảo vệ lòng tự tôn dân tộc. Trong suốt gần một năm, ông kiên quyết không học tiếng Pháp, từ chối sử dụng thứ ngôn ngữ mà ông coi là của kẻ xâm lược đã cướp đi giang sơn và đẩy dân tộc mình vào cảnh lầm than. Mọi sự giao thiệp với giới chức chính quyền thuộc địa đều phải thông qua người thông ngôn. Sự cách ly này không chỉ là rào cản địa lý, mà còn là một pháo đài tâm lý để nhà vua gìn giữ bản sắc quê hương giữa một thế giới xa lạ.
Tuy nhiên, vua Hàm Nghi không phải là một người bảo thủ cực đoan. Sống giữa cái nôi văn hóa đa dạng của Algiers, ông nhận ra rằng, việc nắm vững ngôn ngữ của đối phương chính là chìa khóa để phá vỡ sự cô lập và thấu hiểu cuộc sống của thời hiện tại. Sự đối đãi tử tế, tôn trọng từ các sĩ quan tùy tùng như Đại úy Henri de Vialar cũng đã góp phần làm ông trở nên cởi mở, mềm mại hơn. Đến tháng 11.1889, một bước ngoặt lớn, vua Hàm Nghi chính thức bắt đầu học tiếng Pháp. Ông đã học một cách xuất sắc trong thời gian ngắn. Việc học với ông không phải là một sự đồng hóa, mà là một công cụ để ông tiếp cận với kho tàng tri thức thế giới, từ văn hóa, triết học đến nghệ thuật phương tây.
Sau khi thông thạo tiếng Pháp, vua Hàm Nghi bắt đầu giai đoạn thay đổi góc nhìn, từ đối lập cực đoan sang hòa nhập có chọn lọc. Dưới sự giám sát của Thống đốc Lous Tirman, chính sách “khép và mở” được áp dụng với vua Hàm Nghi. Một mặt siết chặt các mối liên hệ chính trị, một mặt mở ra những không gian văn hóa thuần Pháp nhằm chuyển hóa vị vua trở thành một quý tộc giống người Pháp.
Vua Hàm Nghi đã thích ứng một cách tài tình để bảo tồn bản sắc cá nhân. Ông tiếp cận và làm chủ những thú vui thượng lưu của giới tinh hoa thời bấy giờ, từ đấu kiếm, quần vợt, nhiếp ảnh, đi săn, học nhạc cổ điển, say mê điêu khắc, tham dự các buổi biểu diễn Opera, dự các bữa tiệc lớn… Ông còn am tường cả về mộc và thiết kế nội thất, tự bài trí không gian sống theo phong cách phương Đông như một cách gìn giữ bóng hình quê nhà trong tâm tưởng. Năm 1899 đánh dấu mốc quan trọng khi vua Hàm Nghi sang Pháp tiếp cận với triển lãm của danh họa Paul Gauguin. Những sắc màu và tư duy nghệ thuật của Gauguin đã để lại dấu ấn sâu sắc, ảnh hưởng trực tiếp tới bút pháp hội họa của vua Hàm Nghi sau này.

Nguồn: Internet
Dù thụ hưởng một nền giáo dục và lối sống thượng lưu phương Tây với nguồn trợ cấp lớn từ ngân sách Đông Dương, vua Hàm Nghi vẫn giữa nguyên cội rễ của mình. Trong mọi hoàn cảnh, từ sinh hoạt đời thường đến ngày cưới, nhà vua vẫn luôn giữ nếp sống của người Việt: Đầu đội khăn xếp, mặc áo dài ngũ thân, quần the. Hình ảnh một vị cựu hoàng mặc quốc phục nước Việt giữa những bộ âu phục sang trọng tại Algiers không chỉ là một thói quen, mà là một thông điệp lặng lẽ nhưng đầy mạnh mẽ về lòng tự tôn dân tộc, một người Việt không bị đồng hóa về mặt tâm hồn!
Bước ngoặt lớn nhất xảy ra khi người giám sát trực tiếp của nhà vua là Đại úy De Vialar, một lần tình cờ phát hiện ra những bức vẽ trong sổ tay của nhà vua. Nhận thấy ông có nhiều tư chất tiềm ẩn, De Vialar đã đề nghị họa sĩ Marius Reynaud (1860-1935), một họa sĩ có tiếng tại Algiers hướng dẫn và dẫn dắt nhà vua vào con đường hội họa chuyên nghiệp.
Theo báo cáo của người thông ngôn viên: “Đại úy de Vialar, thấy ngài Ngự có năng khiếu gần như bẩm sinh về hội họa (trong mùa đông này khi trời xấu, ông hoàng vẽ tranh để tiêu khiển, những bức tranh của ngài mặc dù không biết gì về luật viễn cận, vẫn không kém phần tinh tế và khéo léo… Hôm nay đã đến thăm có đưa theo người bạn là ông Reynaud, để giới thiệu với ông hoàng, và nói với ngài rằng nếu ngài muốn học vẽ thì ông ta rất vui lòng dạy cho. Ngài Ngự lập tức đề nghị và thỏa thuận với ông R mỗi tuần đến dạy vào ngày thứ 3 và thứ 7. Trong buổi dạy đầu tiên, ông thầy đã đem theo hộp màu, giá vẽ, và tất cả những vật dụng cần thiết cho việc học vẽ, và ông hoàng mỗi ngày mỗi tiến bộ nhanh chóng”. [1]
Ông R. mà Đại úy de Vialar nhắc tới, chính là họa sĩ Marius Reynaud (1860-1935) sinh tại Marseille, sống tại Alger từ năm 1881. Ông đã trở thành người thầy dạy hội họa cho vua Hàm Nghi từ tháng 11.1889 (10 tháng sau khi bị lưu đày tại Alger) theo phong cách ấn tượng và hậu ấn tượng, như ở trường Mỹ thuật Paris (École des Beaux-Arts). Vua Hàm Nghi học rất tiến bộ, ngày nào cũng say sưa vẽ cả buổi, bất chấp thời tiết và bệnh sốt rét. Chủ đề nhà vua thường vẽ là chân dung con người, tĩnh vật, và phong cảnh. Dưới sự dẫn dắt của Reynaud, nhà vua đã biết sử dụng kỹ thuật viễn cảnh tạo ra nhiều chiều sâu tâm tưởng trong tác phẩm, khiến người xem luôn bị cuốn hút vào thế giới nội tâm tĩnh lặng của tác giả. “Ngài ngự đã có nhiều tiến bộ nhanh chóng, vì vậy mà hôm nay, theo lời khuyên của ông thầy, ngài đã tặng một bức tranh cho quan Toàn quyền Angieri để tỏ lòng biết ơn vì đã giúp ngài trong lúc khó khăn. Bức tranh nhỏ đó vẽ hai quả cam đã bổ và một quả còn nguyên, và bức tranh khác vẽ một con chim khướu mắc bẫy cũng đem tặng cho ông de Vialar vào dịp thăm viếng long trọng mà người ta hay gọi là Ngày đầu năm”. [2]
Vua Hàm Nghi không bán tranh bao giờ mà chỉ mang tặng những người mà ông thấy cảm kích, yêu quý, mang ơn. Bức tranh vẽ “hai quả cam đã bổ, một quả còn nguyên” chính là một trong những bức tranh đầu tay của vua khi học vẽ với họa sĩ Marius Reynaud. Việc tặng tranh cho quan Toàn quyền Algérie (lúc bấy giờ là Tirman) là một hành động mang tính ngoại giao và cũng để chứng minh sự thích nghi của ông với cuộc sống mới. Bức tranh con chim khướu mắc bẫy cũng mang tính biểu tượng cao, phản chiếu chính thân phận bị giam lỏng, bị lưu đày của một người trẻ tuổi tại xứ người.
Từ 1899 đến 1903, vua Hàm Nghi theo trường phái ấn tượng với kỹ thuật nét bút sơn dầu kề nhau để thể hiện thể tích, hình dáng cây cối, ánh sáng được chú trọng gây hiệu ứng cảm giác ấn tượng trên tranh. Bắt đầu từ 1904, sau khi Paul Gauguin từ trần, theo gót nhà họa sĩ tài hoa, ông cho thêm vào kỹ thuật vẽ của mình những màu sắc rực rỡ, diễn cảm như hồng, cam, đỏ son, hoa cà… Hơn nữa, cũng theo lời khuyên của Gauguin cho nhóm Nabis quanh Paul Sérusier, ông sử dụng các màu lì (aplat) phóng khoáng khi vẽ phác thảo. Ông cũng sử dụng kỹ thuật màu phấn (pastel) và vẽ các khảo cứu về những chuyển động của ánh sáng.

Nguồn: https://france3-regions.franceinfo.fr
TÌM TỰ DO TRONG NGHỆ THUẬT
Nghệ thuật hội họa
Nhà vua từng thổ lộ tâm sự của mình qua một bức thư cho người bạn là hoàng thân Murat vào năm 1901: “Mỗi khi cảm thấy nỗi chán chường sắp đến, tôi vớ vội hộp màu và chạy nhanh ra giữa cánh đồng. Tại đó, tôi lặng ngắm phong cảnh cả nhiều giờ liền, và cố gắng ghi nhận những vẻ đẹp mà tôi nhìn thấy. Ngài nói rằng, không phải ai cũng là họa sĩ, nhưng ta có thể có một cảm xúc nghệ sĩ mà không cần để tâm đến tranh. Tất cả các câu chuyện trên chỉ để nói cho ngài biết là hội họa đã tạo cho tôi sự khuây khỏa đến nhường nào. Chính vì thế, tôi bám víu vào đó bằng cả tâm hồn lẫn thể xác. Không có nó, tôi chẳng biết sẽ như thế nào, bởi tôi đã thấy, hệt như ngài, cuộc sống là một chuỗi đơn điệu…” (3). Nội dung lá thư trên đã lột tả trọn vẹn được sự chuyển hóa của ông, từ một vị vua mất nước, bị lưu đày, ông đã tìm được sự cứu rỗi trong nghệ thuật. “Tôi bám víu vào đó bằng cả tâm hồn lẫn thể xác” cho thấy hội họa với ông không còn là một thú tiêu khiển, mà là một phương thức để tồn tại và giữ gìn nhân cách. Qua những bức vẽ ban đầu, có thể thấy được sự tài hoa nhưng đầy nỗi niềm của nghệ sĩ “Tử Xuân” nơi viễn xứ.
Một trong những tác phẩm đánh dấu sự khởi đầu ấn tượng trong con đường nghệ thuật của vua Hàm Nghi là bức chân dung tự họa bằng than chì (graphite/charcoal) được thực hiện vào năm 1896. Nhà vua đã tự vẽ mình trong trang phục truyền thống An Nam (áo dài, khăn vấn) như một cách để khẳng định cội nguồn và bản sắc dân tộc và sự bất khuất của mình dù đang bị lưu đày nơi xứ người.

Nguồn: https://amis-musee-cernuschi.org
Tác phẩm sơn dầu đầu tiên còn được lưu giữ là bức tranh “Vô đề” (1899) vẽ về phong cảnh miền quê Algiers, thể hiện bước đi đầu tiên của ông trong việc tiếp cận kỹ thuật hội họa phương tây, cụ thể là trường phái ấn tượng với cách xử lý về ánh sáng và màu sắc tươi sáng. Ngoài ra có một số tác phẩm khác mang tính biểu tượng phong cách của vua Hàm Nghi và khá nổi tiếng trong giới nghiên cứu cũng như đấu giá gần đây. Đó là bức “Chiều tà” (Déclin du jour), đây là bức sơn dầu nổi tiếng nhất của vua Hàm Nghi được đấu giá thành công tại Paris năm 2010 (với mức 8.800 Euro giá gõ búa, giá có phí là 11.000 Euro, một số tiền khá lớn vào thời điểm đó), do bác sĩ người Pháp gốc Việt Gérard Chapuis đấu giá thành công.
Tác phẩm “Những sườn đồi ở Deli Ibrahim (Algiers)”, kích cỡ 43,5×55,2cm được nhà vua sáng tác năm 1908. Đây là một trong những bức tranh gốc gốc hiếm hoi được gia đình vua Hàm Nghi hiến tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cuối năm 2024. Theo tiến sĩ Amandine Dabat, cháu ngoại của vua Hàm Nghi, đây là tác phẩm tiêu biểu cho những nghiên cứu hội họa của nhà vua, trong đó có ảnh hưởng của chủ nghĩa ấn tượng. Nhà vua vẽ thiên nhiên, và tìm cách thể hiện ánh sáng trong những rung động tinh tế nhất của nó. Tác phẩm này từng được trưng bày trong triển lãm của ông tại phòng tranh Mantelet – Colette Weil, Paris những năm 1926.
Bức tranh sơn dầu “Vách đá biển Port Blanc (st- Lunaire)” được vẽ vào năm 1912 (61x50cm, bộ sưu tập riêng, Amandine Dabat), là một trong những sáng tác tiêu biểu cho phong cách của nhà vua. Mỗi mùa hè, nhà vua thường sống khoảng 3 tháng ở Pháp, vùng Saint – Lunaire, nơi có bờ biển Port Blanc là địa điểm yêu thích của gia đình ông. Ông thường đem theo dụng cụ hội họa và vẽ rất nhiều phong cảnh Pháp. Hầu như tác phẩm thời kỳ này đều phảng phất nhuốm một màu buồn cô liêu, man mác. Hai tác phẩm “Trên con đường El Biar” và “Vách đá biển Port Blanc” đều có chung một phong cách là nhìn ngược ánh sáng, nơi người nghệ sĩ đứng về phía mặt trời lặn. Việc chọn lối thể hiện này tạo ra những hình khối sẫm màu (silhouette), tương phản mạnh với bầu trời rực rỡ, tăng thêm vẻ kịch tính và nỗi buồn nội tâm. Hai bức tranh đều được ông ký tên bằng tiếng Hán có nghĩa là Tử Xuân (子春). Bút danh Tử Xuân (Con trai của mùa xuân) của ông, có ý nghĩa nhắc nhớ một mùa xuân của quê hương và niềm mong mỏi về đất nước có sự hồi sinh. Chính sự xuất hiện của chữ ký Tử Xuân trên một khung cảnh phương tây, tạo nên một sự giao thoa văn hóa rất riêng biệt.
Có một đặc điểm rất dễ nhận ra đó là trong các bức tranh phong cảnh của ông dường như hoàn toàn thiếu vắng, hiếm khi có bóng dáng con người. Có lẽ, với ông, thiên nhiên là chốn trú ngụ, là người bạn tâm giao, còn con người và xã hội, thường gắn liền với những biến cố chính trị và nỗi đau mất nước, ly tan.


Nghệ thuật điêu khắc
Trong những năm lưu lạc xứ người, vua Hàm Nghi vẫn ở trong tình cảnh vừa bị giám sát nhưng cũng vừa được thả lỏng trong khuôn khổ. Ông không nhận được nhiều thư từ, tin tức từ An Nam, nhưng bù lại, nhà vua ngày càng có khá nhiều bạn trong giới nghệ thuật và trí thức. Ngoài hội họa, ông quan tâm nhiều tới kiến trúc, nhiếp ảnh, điêu khắc. Leon Fourquet được coi là người thầy dạy điêu khắc đầu tiên của ông tại Algiers từ năm 1895. Thời gian sau đó, ông giao lưu với nhiều nghệ sĩ và thường xuyên tới thăm xưởng của họ như Auguste Rodin, Benjamin Constant, Georges Cain, Pierre Pche, Georges Antoine Rochegrosse…
Từ năm 1904, trong những kỳ nghỉ hè tại Pháp, nhà vua đã đến xưởng của Auguste Rodin (người được coi là điêu khắc gia tiên phong của ngành điêu khắc hiện đại) tại đường Rue de l’Université (Paris) để học kỹ thuật điêu khắc.
Đã có nhiều người tới ngồi làm mẫu trong xưởng của ông ở El Biar trong đó có cả những người lính Spahis (họ thuộc đội kỵ binh của quân đội Pháp, chủ yếu là dân bản địa Algeria, Tunisia và Morocco). Trong những ngày tháng học điêu khắc và sáng tác, ông đã để lại nhiều tác phẩm rất xuất sắc với chất liệu đồng, gỗ, thạch cao…

Nguồn: https://www.cernuschi.paris.fr
Từ năm 1920, nhà vua ngày càng đam mê và tập trung vào điêu khắc. Một số tác phẩm còn lưu giữ tới giờ như: “Chân dung José”, tượng điêu khắc bằng đất nung, năm 1922, (tư liệu của gia đình Laloe); Pho tượng “Eva” năm 1925, cao 52 cm khá nổi tiếng, ảnh hưởng rõ phong cách của Rodin về cách xử lý hình thể và bề mặt, điều này có thể do vua Hàm Nghi học được từ nhà điêu khắc Rodin về kỹ thuật chuyên môn. Tác phẩm “Eva” (1925) được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp điêu khắc của vua Hàm Nghi, tác phẩm này không chỉ là một bài thực hành kỹ thuật điêu khắc phương tây mà còn là một phiên bản Eva mang tâm hồn Việt với sự biểu cảm tự nhiên toát ra từ tác phẩm. Cách ông diễn tả “từng bắp thịt, đường gân” cho thấy ông đã có sự thể nghiệm về kiến thức giải phẫu học trong điêu khắc, giống như Rodin trong kiệt tác “Người Suy tư”, Hàm Nghi không chỉ tạc một hình hài tĩnh, ông tạc một trạng thái tâm lý, một Eva với khuôn mặt gần như giấu kín bởi cánh tay như một sự nghệ thuật hóa nỗi đau và sự tủi hổ. Những khối nhám gồ lên giống như con người khi đang cố gồng che giấu, thu mình lại, Eva không chỉ là một pho tượng đồng vô tri, mà là một cơ thể đang run rẩy trước sự trừng phạt của Thượng đế.
Một số nhà nghiên cứu đã ví von pho tượng Eva với tình cảnh của vua Hàm Nghi, có một sự đồng cảm về việc bị lưu đày. Nếu như Eva bị đuổi khỏi Thiên đường do phạm lỗi, còn vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp truất quyền và trục xuất khỏi đất nước mình. Eva che mặt và tay trái cầm trái táo, thể hiện một sự cay đắng, bơ vơ lạc lõng và cô độc. Sự trần trụi của Eva cũng chính là sự cay đắng của một ông vua không còn ngai vàng, không đất nước quê hương, không người thân thích họ hàng, một mình nơi xứ người.

Pho tượng Eva bị lưu đày này được đánh số 2 tại triển lãm Galerie Mantelet-Collette Weil (Quận 8, Paris), một trung tâm nghệ thuật sầm uất thời bấy giờ, cho thấy rằng, cựu hoàng Hàm Nghi – nghệ sĩ Tử Xuân không phải là một nghệ sĩ nghiệp dư, ông đã bước vào thị trường nghệ thuật khó tính nhất thế giới với một tâm thế tự tin, mạnh mẽ. Việc ông được trưng bày tại khu vực sang trọng của Paris lúc bấy giờ, cho thấy giới phê bình Pháp đã công nhận ông là một nghệ sĩ thực sự, ngang với các học trò ưu tú khác của Rodin. Vua Hàm Nghi và nhà điêu khắc Rodin bên cạnh mối quan hệ thầy trò, họ còn là những người bạn tâm giao có sự trân trọng với nhau. Rodin dành sự tôn trọng lớn cho vua Hàm Nghi, họ thường xuyên trao đổi thư từ và đàm đạo, giao lưu về nghệ thuật. Vua Hàm Nghi có tặng cho điêu khắc gia Rodin một bức hình năm nhà vua 30 tuổi, bức ảnh đã được Rodin trân trọng giữ gìn và lưu lại trong Viện Bảo tàng Rodin.
Nhiều minh chứng cho thấy vua Hàm Nghi yêu thích và luôn tự tin, thậm chí, là một nghệ sĩ chuyên nghiệp, ví dụ, qua lời miêu tả đầy sống động của nhà báo H. de Varigny về phòng vẽ của vua Hàm Nghi, ta có thể một không gian sáng tạo đa dạng, phản ánh tâm hồn của một nghệ sĩ đa tài, có thị giác thẩm mỹ tinh tế: “Những cuốn sách trên bàn, những bức tranh, những bức thủy mặc, những ký họa trên tường, những giá vẽ với tranh còn dở dang, những chiếc kệ nhạc, những máy ảnh, tất cả nói lên cái óc tò mò, muốn hiểu, muốn biết, muốn sáng tạo, vừa xông vào nhiều con đường mới đang mở ra trước mắt, vừa theo bản năng lao vào những gì đáp ứng tối ưu với thị hiếu của mình, mà, như có người đã nói: ông hiểu hơn ai hết về ngôn ngữ nghệ thuật” [4]. Dường như nhà vua đã tìm thấy cho mình một lối thoát trong nghệ thuật, chính vì vậy ông ngày một yêu thích và đam mê với nghệ thuật, đặc biệt là điêu khắc và hội họa. Sáng tạo đã trở thành một “lối thoát” thực sự, một vương quốc tự do trong chốn lưu đày của một ông vua yêu nghệ thuật.

LỄ CƯỚI ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ TẠI ALGER
Tháng 11 năm 1904, vua Hàm Nghi kết hôn với cô Marcelle Laloe (sinh năm 1884), con gái ông Francois Laloe, Chánh án Tòa thượng thẩm Alger ((Président à la Cour d’Appel d’Alger). Từ lúc vua Hàm Nghi đính hôn đến lễ cưới của ông đều được coi là một sự kiện lớn đặc biệt chưa từng có tại Alger bởi cô dâu có bố làm chánh án tòa, một vị trí rất cao trong bộ máy tư pháp thuộc địa, còn chú rể là một cựu hoàng đế bị lưu đày. Sự kết hợp này phá vỡ nhiều định kiến xã hội thời bấy giờ. Lễ cưới của ông bà thu hút được rất đông đảo người dân tới vây kín nhà thờ Alger và Tòa thị chính để chứng kiến. Trong vai trò một chú rể, ông cựu vua vẫn mặc nguyên bộ trang phục áo dài gấm, đầu quấn khăn xếp của nước Việt thế kỷ 19, còn cô dâu mặc váy trắng muốt, tay cầm ô, đầu đội mũ quý tộc theo phong cách phương tây. Điểm đặc biệt nhất và thể hiện rõ tính cách của vua Hàm Nghi chính là bộ lễ phục ông mặc trong ngày cưới cho thấy sự tự tôn dân tộc cực kỳ cao, cho thấy dù cưới một người vợ nước ngoài, ông vẫn luôn giữ cốt cách của một vị quân vương nước Nam. Giới bưu ảnh đã nắm bắt cơ hội này để in hàng loạt tem và bưu thiếp hình ảnh lễ cưới của hai ông bà, “biến” họ thành “ngôi sao” của vùng Bắc Phi năm 1904. Hiện nay, rất nhiều nhà sưu tập tem vẫn còn lưu giữ bộ sưu tập đó.
Sau khi kết hôn một năm, ông bà có 3 người con gồm 2 công chúa và 1 hoàng tử. Cả ba người con của vua Hàm Nghi đều được giáo dục rất bài bản, thành đạt và giữ gìn phẩm giá hoàng tộc cũng như tình yêu với người cha của mình. Công chúa cả là Nguyễn Phúc Như Mai (Princess Marcelle Suzanne Henriette Ung Lich Ham Nghi d’An -nam, 1905-1999) là người thừa hưởng nhiều nhất trí tuệ và tinh thần của vua Hàm Nghi. Bà là người phụ nữ Việt đầu tiên tại Algeria đỗ bằng Thạc sĩ Nông nghiệp và có bằng chuyên ngành về hóa sinh học tại Pháp. Bà làm việc tại Institut Agricole Francaise, có nhiều thành tích nên đã được đặt tên đường ở Dordogne, Pháp. Bà thường hay mặc theo kiểu phụ nữ Việt nên khi được hỏi tại sao mặc như vậy, bà đã trả lời: “Ăn mặc như thế là do theo ý muốn của cha tôi – vua Hàm Nghi”.

Nguồn: https://france3-regions.franceinfo.fr
Công chúa thứ hai có tên Nguyễn Phúc Như Lý, (Nhu Ly Ung Lich Ham Nghi d’Annam, 1908-2005), bà kết hôn với bá tước François de la Besse và theo chồng về sống tại lâu đài De La Nauche ở làng Thonac vùng Vigeois. Bà được miêu tả là người phụ nữ quý phái, kín đáo, rất tự hào về nguồn gốc Việt của mình. Bà cũng là người sở hữu nhiều kỷ vật quan trọng của nhà vua sau khi ông qua đời. Bà là bà ngoại của Tiến sĩ Amandine Dabat, là người hiện tại đang tích cực nhất trong việc đưa những di sản của vua Hàm Nghi trở lại với công chúng Việt Nam.
Người con thứ ba của vua Hàm Nghi là Hoàng tử Nguyễn Phúc Minh Đức (Jean Ung Lich Ham Nghi d’Annam, 1910-1990) là người con trai duy nhất của vua Hàm Nghi. Ông theo đuổi binh nghiệp và trở thành một sĩ quan trong quân đội Pháp. Ông tốt nghiệp trường Võ bị Saint – Cyr và theo đuổi con đường binh nghiệp, trở thành sĩ quan trong quân đội Pháp, về hưu với cấp bậc Đại tá. Năm 1946, người Pháp muốn ông sang phục vụ tại Đông Dương, nhưng ông đã từ chối, sau đó, họ đã điều động ông sang Algerie phục vụ cho một đơn vị quân đội.
Cuộc sống của vua Hàm Nghi sau khi lập gia đình và có con, sau năm 1904, là một giai đoạn chuyển mình quan trọng trong sự nghiệp sáng tác. Từ một ông vua bị lưu đày trong sự cô độc và có giám sát, ông đã trở thành một người cha, một nghệ sĩ thực sự và một trí thức có uy tín trong xã hội Algeria. Ông đã chuyển về sống tại ngôi biệt thự cổ kính mà ông đặt tên là Villa Gia Long ở vùng El Biar, trên một ngọn đồi nhìn ra vịnh Algiers. Đây là một nơi đáp ứng được nhu cầu không gian cho gia đình, con cái, và không gian nghệ thuật cho chính ông. Trong nhà, ông trưng bày các tác phẩm nghệ thuật, tủ sách, các kỷ vật từ quê hương. Cũng tại đây, Hàm Nghi xây một nhà thờ tổ, quanh ngôi nhà thờ được trang trí tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng), gợi nhớ một không gian rất Huế, có cả chiếc cầu bắc qua suối nước chảy róc rách, vườn hoa, và phía xa là cửa biển Alger. Rất nhiều nhân vật có thế lực trong chính quyền sở tại, văn nhân, nghệ sĩ tên tuổi thường xuyên tới biệt thự Gia Long làm khách ở nhà ông.
Giai đoạn này ông cũng tập trung vào sáng tạo, phát triển nhất là nghệ thuật điêu khắc với điêu khắc gia Rodin. Các con ông chính là nguồn cảm hứng và đôi khi là người mẫu để ông thực hành các kỹ thuật mới. Phòng làm việc của ông tại El Biar trở thành một thế giới riêng, nơi ông thực hiện hai tác phẩm: “Eva” (1925) và “Chân dung Jose” (1922). Ông vẫn luôn giữ phong thái cốt cách một hoàng thân nước Việt, giữ lối sống chừng mực, từ chối các lời mời mang tính chất trình diễn chính trị, dành phần lớn thời gian cho gia đình và đam mê nghệ thuật.

HÀM NGHI – QUA CÁC GÓC NHÌN KHÁC
Năm 1902, nữ văn sĩ trẻ Tatyana Shchepkina-Kupernik có chuyến du hành sang Bắc Phi, tới Algeria và may mắn được gặp gỡ, trò chuyện với vua Hàm Nghi – người mà bà thường gọi là Prince d’Annam. Cảm mến cốt cách của nhà vua, bà đã viết tập du ký “Những bức thư từ phương xa”, xuất bản năm 1903 với nhân vật nguyên mẫu là vua Hàm Nghi. Hình ảnh hoàng tử An Nam hiện lên trong góc nhìn của Tachiana như sau: “Chiếc khăn xếp màu trắng trùm trên mái tóc đuôi sam, chiếc áo dài đen với ông tay áo rộng buôi xuôi được lót bằng lụa tơ tằm màu xanh tươi, nước da vàng ngăm đen mang sắc màu của chiếc ngà voi lâu năm, còn rất buồn và thông minh là đôi mắt đen hơi xếch lên phía thái dương, tay và chân chàng nhỏ nhắn. Tất cả điều đó khiến tôi nghĩ về một bức tượng quý giá, được chạm trổ bằng bàn tay tài hoa của một nghệ sĩ phương Đông.” [5]
Không gian nghệ thuật trong ngôi biệt thự của Hàm Nghi hiện lên qua sự quan sát của nữ nhà văn, gây ấn tượng nhất là các tác phẩm tại biệt thự Gia Long, bà đã thốt lên rằng, trong hình hài nhỏ bé tự như chạm trổ từ ngà voi kia, ẩn giấu tâm hồn của một nghệ sĩ lớn. Trên chiếc giá vẽ còn có bức tranh đang vẽ dang dở. Những câu đối, tấm trướng bằng lụa được treo trên tường, bản thảo, mực bút trên bàn, chiếu cói trên nền nhà. Xen lẫn là những đồ nội thất của phương Tây như cây đàn dương cầm, violon, bản nhạc, bản phác thảo tranh… Qua lăng kính của Tatyana, thế giới hội họa của vua Hàm Nghi hiện lên đầy thú vị, từ những khu vườn, những cửa vòm kiểu La mã ở Timgad, cảnh hoàng hôn rực rỡ trên biển, cảnh điêu tàn của Constantine và cánh rừng cọ El Kantara, mái vòm trắng của nhà mộ Marabout cổ kính… Tất cả đều sống động trên nền vải, như một nỗ lực ghi lại vẻ đẹp của thế giới để khỏa lấp nỗi cô độc. Bà đã lồng vào tác phẩm của mình cảm nhận về nỗi bi kịch sâu kín của vua Hàm Nghi với đất nước, khát vọng về tự do qua những nhát cọ. Sự kiêu hãnh của vua Hàm Nghi được khắc họa qua chi tiết lời khước từ việc triển lãm tranh ở Paris, khi có một vị phu nhân hỏi ông về việc triển lãm các tác phẩm của mình ở Paris, ông đã đáp lại một cách lịch sự, nhưng đầy dứt khoát: “Tôi lại cho rằng, sẽ là có lỗi nếu triển lãm những bức tranh của mình ở Paris”. Lời đáp ấy không chỉ là một sự khiêm nhường, mà còn là thái độ của một vị vua không muốn biến tác phẩm của mình thành những món hàng trưng bày theo ý thích của người khác. Nữ nhà văn Tatyana cho rằng, câu nói này của vua Hàm Nghi đã “thức tỉnh” tâm hồn bà.
Bà Tatyana Shchepkina-Kupernik là nhà văn rất thân thiết với đại văn hào Anton Chekhov. Những ghi chép này đã giúp độc giả Nga hình dung được hình ảnh một vị vua sau 10 năm lưu đày hiện lên đầy đủ nhất với trang phục “khăn xếp trắng”, “áo dài đen tay rộng lót lụa xanh”. Điều này chứng tỏ nhà vua khá kiên định với lối ăn mặc truyền thống Việt khi tiếp khách. “Nước da màu ngà voi lâu năm”, “đôi mắt rất buồn và thông minh” lột tả nội tâm của vị vua mất nước nhưng có trí tuệ mẫn tiệp. Bà ví vua như một “bức tượng quý giá được trạm trổ bởi nghệ sĩ phương Đông” cho thấy phong thái ung dung, trí tuệ và sự tôn trọng mà giới trí thức phương tây dành cho ông.

Ngay cả Georges Catroux – quan toàn quyền Đông Dương đã khẳng định trong hồi ký của mình: “Mặc dù việc bị trục xuất đối với vua Hàm Nghi là rất đau đớn, nặng nề, dù nhà vua luôn đau đáu niềm cảm hoài thương nhớ quê nhà và quan tâm tới số phận của đất nước, ông ấy không bao giờ nói với tôi một lời về Việt Nam hoặc cảnh ngộ của mình”.[6]Sự tương phản giữa việc Hàm Nghi luôn đau đáu niềm cảm thương quê nhà nhưng không bao giờ “hé răng” nói một lời với một vị quan chức cấp cao người Pháp nhưng lại có thể trải lòng với Tatyana, đại diện cho nghệ thuật, cho tình bạn. Điều này cũng thể hiện tình cảnh “vừa bị giám sát, vừa được thả lỏng” của vua Hàm Nghi. Cuộc gặp gỡ với Tatyana đã làm cho ông có thể trải lòng những điều ông đã, và sẽ không nói với người Pháp. Đó là những điều ông dồn nén trong lòng và chỉ đợi dịp trào ra… Ông nói ông viết bằng văn tự nước Nam những tác phẩm triết học, những bình chú về nho giáo… Vị hoàng thân trong tác phẩm của Tatyana khẽ nói: “Je suis un pauvre oiseau avec un fil à la patte…” (Tôi là con chim khốn khổ bị sợi dây trói chân) ... Ông cười mỉm với nụ cười quen thuộc, nụ cười làm nhói lòng những người bạn.
Như vậy, sức hút của vua Hàm Nghi lúc ở xa Tổ quốc rất thú vị bởi ông đã trở thành nhân vật chính trong nhiều tác phẩm văn chương, thơ ca, tư liệu… Nhiều tác giả rất ngưỡng mộ tài năng và tính cách của ông. Nhà văn Jules Roy, người từng sống tại Algeria đã tái hiện hình ảnh của vua Hàm Nghi trong không gian sang trọng tại salon của bà nam tước de Vialar: “Người ngồi trong im lặng bên cạnh bà là Le Prince d’Annam. Chính bản thân ông ta cũng là một kẻ bị lưu đày, người mảnh khảnh nhỏ bé, trên đầu đội một chiếc khăn đống màu đen.” Trong những dòng ký ức ấy, Jules Roy đặc biệt nhấn mạnh tâm thế của một người nghệ sĩ: “Ông hoàng xứ Annam gầy guộc như một cây sậy, nói về hội họa, về họa thất (Atelier) tại ngôi biệt thự của ông ở làng El Biar. [7]
Dù có tài năng và thiên hướng về nghệ thuật, nhất là trong hội họa và điêu khắc, khiến giới mỹ thuật đương thời ở Pháp tôn trọng, ngợi khen và nhiều lời mời triển lãm, nhưng không phải lúc nào ông cũng đồng ý đem tác phẩm đi tham dự triển lãm. Có lẽ, với ông, nghệ thuật không phải để khoe, để khoa trương, để tự hào, mà trái lại, nghệ thuật là phương cách để nung nấu tâm hồn u uất và giải tỏa những nỗi khát vọng sâu kín. Ông thường hay chơi đàn một mình. Âm nhạc vang lên trong không gian phương nơi xứ người đã xoa dịu tâm hồn ông.

NGƯỜI TIÊN PHONG CỦA MỸ THUẬT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Sinh thời, với nghệ danh Tử Xuân, vua Hàm Nghi khẳng định được vị trí nghệ sĩ thực sự của mình thông qua ba cuộc triển lãm quan trọng tại Paris.
– Triển lãm đầu tiên năm 1904 là một triển lãm nhóm, địa điểm tại Musée Guimet, Bảo tàng Guimet, Paris. Đây là lần đầu tiên công chúng Paris tiếp cận với tư duy nghệ thuật của vị “Hoàng tử An Nam”.
– Triển lãm thứ hai, năm 1911 tại Galerie Mantelet. Giai đoạn này cho thấy rõ nét hơn về phong cách hội họa sơn dầu của ông.
– Lần thứ 3 (1926) tại Galerie Mantelet-Colette Weil, số 26 đường La Boetie, Quận 8, Paris. Triển lãm có tên Exposition de peintures et de sculptures du Prince d’Annam (Triển lãm Tranh và tượng của Hoàng thân An Nam) vào tháng 11 năm 1926. Đây là triển lãm cá nhân đầu tiên của ông, đóng dấu một cột mốc khẳng định vị thế, danh tiếng của ông trong giới nghệ thuật Paris với 38 bức tranh sơn dầu và 12 tượng điêu khắc.
Có thể coi ông là người Việt đầu tiên có tác phẩm được trưng bày chuyên nghiệp tại kinh đô ánh sáng, nếu xét về thời gian, ông đã trở thành họa sĩ chuyên nghiệp tại Pháp trước khi Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ra đời. Cùng thời điểm đó, họa sĩ Lê Văn Miến, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Paris (Ecole des Beaux-Arts) năm 1894, cùng với vua Hàm Nghi, là hai người Việt được học kỹ thuật hội họa sơn dầu một cách bài bản của phương tây. Riêng vua Hàm Nghi, ông không chỉ dừng ở kỹ thuật sơn dầu mà còn làm chủ các chất liệu khác như phấn màu, các kỹ thuật điêu khắc đồng, thạch cao, đất nung dưới sự dẫn dắt của bậc thầy Auguste Rodin.
Những bức tranh của ông mang phong cách ấn tượng với sắc màu bảng lảng, tinh tế. Điểm nhấn đặc biệt là sự vắng bóng hình dáng con người trong các tác phẩm phong cảnh. Không gian trong tranh thường mang sắc thái cô độc, vắng lặng và hiu quạnh, phản ánh chiều sâu u uất của một tâm hồn lưu đày luôn đối diện với sự trống trải và xa cách nghìn trùng với quê hương bản quán.

Nguồn: https://www.rfi.fr
Trên các tác phẩm của mình, vua Hàm Nghi thường ký tên Tử Xuân (春子). Đây không chỉ là bút danh, mà còn là biểu tượng của nỗi lòng hoài hương, của đứa con nhỏ bé của mùa xuân nước Nam, một mùa xuân xa xôi mà ông hằng khao khát nhưng chưa một lần được trở về. Đối với vua Hàm Nghi, sáng tạo nghệ thuật chưa bao giờ là một cuộc mưu sinh hay tìm kiếm danh tiếng. Ông không bao giờ bán tác phẩm của mình, thay vào đó, ông chỉ tặng chúng cho những người ông quý mến hoặc những người từng giúp đỡ mình như một kỷ vật của lòng trân trọng. Việc tổ chức triển lãm với ông cũng là một sự cân nhắc kỹ lưỡng, bởi nghệ thuật với ông giống như một nơi trú ngụ riêng tư của tâm hồn hơn là sự phô diễn cho công chúng.
Năm 1962, thời điểm Algeria giành độc lập, một phần lớn tranh và tượng của ông đã bị thất lạc trong vụ hỏa hoạn tại biệt thự Gia Long. Những gì còn lại tại bảo tàng Algeria và trong tay các nhà sưu tập tư nhân là hiếm hoi và đáng quý. Khi hậu duệ của nhà vua trở lại Algiers để tìm kiếm dấu tích của ông, ngôi biệt thự Gia Long xưa nay đã trở thành trụ sở của cơ quan nhà nước, tọa lạc tại số 7, đường Chemin du Prince d’Annam, Algiers. Chính quyền Algeria đã đặt tên đường là “Hoàng thân An Nam” để vinh danh ông. Những dấu vết một thời của tòa biệt thự giờ chỉ còn lại một ít về kiến trúc. Đặc biệt, những tác phẩm điêu khắc vốn được nhà vua đặt trang trọng ngoài vườn đã được Bộ Văn hóa Algeria trân trọng thu thập và lưu giữ tại bảo tàng để bảo vệ khỏi sự bào mòn của thời gian. Sự lưu giữ của nước bạn và những nỗ lực hồi hương di sản của gia đình trong thời gian gần đây đã mở ra một chương mới. Người dân Việt Nam đã được thưởng thức nhiều hơn các tác phẩm nghệ thuật và hiểu được nỗi lòng của người con xa xứ.

Vua Hàm Nghi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 14.1.1944 tại Algiers, đánh dấu sự kết thúc của thân phận một ông vua bị lưu đày đầy khí tiết. Thời điểm ông qua đời là lúc lịch sử thế giới đang ở giai đoạn khốc liệt nhất của Thế chiến II: Nước Pháp đang nằm dưới sự chiếm đóng của phát xít Đức. Chính vì sự ngăn cách của chiến tranh và các lệnh cấm vận chuyển, ba người con của ông đang học tập và làm việc tại Pháp không thể vượt biển về Algeria để tiễn biệt cha lần cuối. Tới tháng 6.1944, sau cuộc đổ bộ lịch sử tại Normandy giúp nước Pháp dần được giải phóng, các con của nhà vua mới có thể tìm đường trở lại Algiers. Khi họ đặt chân đến biệt thự Gia Long, là lúc vị cựu hoàng đã nằm sâu dưới lòng đất được hơn nửa năm. Sau hơn 6 tháng, gia đình đã quyết định thực hiện một hành trình di dời đầy ý nghĩa. Phần mộ của vua Hàm Nghi sau đó đã được di dời khỏi vùng đất Algeria để về an nghỉ vĩnh hằng tại nghĩa trang gia đình ở làng Thonac, tỉnh Dordogne, nước Pháp. Tại đây, trong không gian yên bình của vùng nông thôn nước Pháp, vị vua yêu nước nằm lại đó, khép lại một hành trình 55 năm ly hương nhưng chưa bao giờ nguôi ngoai cốt cách của một vị quân vương nước Nam.
Sau hơn 80 năm yên nghỉ tại nghĩa trang gia đình ở làng Thiviers, Pháp, nơi ông nằm cạnh vợ và các con, hành trình đưa cựu hoàng Hàm Nghi trở về đất mẹ đang mở ra những hy vọng mới. Đây là kết quả của sự nỗ lực kết nối giữa hậu duệ đời thứ 5, Tiến sĩ Amandine Dabat với Hội đồng Nguyễn Phúc tộc và chính quyền địa phương ở Huế. Theo phương án được thảo luận, lăng mộ của vua Hàm Nghi dự kiến sẽ được quy hoạch nằm kề cận quần thể di tích của gia đình tại Huế, gần phụ thân Kiên Thái Vương và hai người anh đế vương là Đồng Khánh và Kiến Phúc, trong vùng đệm của lăng Tự Đức. Tuy nhiên, đây là một hành trình cần sự thấu đáo và thời gian. Trước mắt, gia đình ưu tiên việc đưa di sản nghệ thuật và tinh thần của nhà vua về quê hương, xem đó là sự trở về đầu tiên của một tâm hồn nghệ sĩ. Việc di dời phần mộ vẫn là câu chuyện để ngỏ cho tương lai, phụ thuộc vào sự đồng thuận cuối cùng của toàn thể hậu duệ tại Pháp. Sự quy tụ này, dù dưới hình thức di sản hay hình hài, đều tôn vinh một vị vua yêu nước và là sự tri ân của hậu thế với vị quân vương nghệ sĩ đã dành cả cuộc đời lưu đày để giữ gìn bản sắc và luôn đau đáu hướng lòng về quê hương!
Dẫn nguồn:
[1], [2]: “Trích Báo cáo của thông ngôn viên gửi Thống đốc Algeria (tháng 11.1889), tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp (ANOM).
[3]: Trích thư vua Hàm Nghi gửi Hoàng thân Joachim Murat (1901), “Hàm Nghi: Hoàng đế lưu đày – Nghệ sĩ ở Alger”, Amandine Dabat.
[4]: Nhà báo Henry de Varigny, “Le Prince d’Annam”, báo Le Temps (Paris), 14.12.1894.
[5]: Trích từ tập du ký “Những bức thư từ phương xa” (Письма из далека, 1903) của Tatyana Shchepkina-Kupernik. Saint Petersburg, 1903.
[6]: Georges Catroux, Dans la bataille de Méditerranée, Élisabeth Ville đến Paris, NXB Julliard, 1949.
[7]: Nhà văn Pháp Jules Roy, người có những góc nhìn sâu sắc về các vấn đề thuộc địa và những nhân vật lịch sử như vua Hàm Nghi trong tác phẩm La Guerre d’Algérie, Paris: Éditions Julliard, 1960.
Vui lòng dẫn nguồn cụ thể khi chia sẻ bài viết từ Artinsight. Khi sử dụng bài viết cho mục đích thương mại, liên hệ qua địa chỉ artinsight.vn@gmail.com.
Donate to Artinsght: Để Artinsight có thể xuất bản nội dung chất lượng, duy trì và phát triển bền vững, đóng góp nhiều giá trị, hãy donate cho chúng tôi tại đây: DONATE. Chân thành cảm ơn.
