Phỏng vấn Tiến sĩ Amandine Dabat về vua Hàm Nghi:
Tác giả: Codet Hanoi
Trình bày ảnh: Sơn Ca
Cuộc đời của vua Hàm Nghi là một chuỗi những sắp đặt bất ngờ của số phận. 13 tuổi lên ngôi, hơn 3 năm ròng rã kháng chiến Cần Vương nơi rừng thiêng nước độc, để rồi ở tuổi 17, vị vua trẻ bị Pháp bắt và đưa lên tàu sang Algérie, lưu đày biệt xứ. Cho đến khi giã từ cuộc đời ở tuổi 73, ông vẫn chưa một lần được trở về cố hương. Ông sinh ra không phải để làm vua, nhưng ông lại được lịch sử sắp đặt để làm vua. Ông sinh ra không định làm nghệ sĩ, nhưng tố chất nghệ sĩ lại thấm đẫm tâm hồn ông. Ông tìm thấy tự do trong nghệ thuật và hơn hết, trái tim hướng về nơi quê hương của ông, luôn vô cùng mãnh liệt. Ông cũng chính là người Việt đầu tiên có triển lãm cá nhân tại Paris, Pháp vào năm 1926, để lại một di sản nghệ thuật đáng trân trọng cho hậu thế.
Bài phỏng vấn này được thực hiện vào năm 2022 trong khuôn khổ triển lãm “Hàm Nghi, nghệ thuật lưu vong” tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Á, Nice, Pháp. Triển lãm trưng bày gần 150 hiện vật, bao gồm các tác phẩm hội họa, điêu khắc, bản vẽ thiết kế cùng nhiều thư từ và tư liệu của nhà vua, do Tiến sĩ Amandine Dabat, cháu 5 đời của vua Hàm Nghi đã dành ra nhiều tâm huyết sưu tầm và tổ chức.
Tiến sĩ Amandine Dabat, là chuyên gia về Lịch sử nghệ thuật (Đại học Sorbonne), Thạc sĩ Việt Nam học (Đại học Paris-Diderot). Chị hiện là thành viên Trung tâm Đông Nam Á thuộc Trường Nghiên cứu cao cấp về Khoa học Xã hội (EHESS). Năm 2015, chị bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Viện Lịch sử Nghệ thuật Quốc gia Pháp (INNA) với đề tài: “Hàm Nghi – Empereur en exil, artiste à Alger” (Hàm Nghi – vị Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ tại Alger”. Công trình nghiên cứu này sau đó đã được chị chuyển thể thành sách và nhận được Giải thưởng Hỗ trợ sáng tác văn học của Quỹ Simone và Cino Del Duca.

Ý THỨC VỀ TỔ TIÊN
Codet Hanoi: Từ khi nào chị ý thức được rằng, mình là người mang trong mình dòng máu của vương triều Nguyễn?
Tiến sĩ Amandine Dabat: Thật sự tôi không nhớ chính xác từ lúc nào tôi nhận ra được rằng mình chính là chắt của vua Hàm Nghi – một vị vua xứ An Nam như mọi người thường gọi. Tôi lớn lên với điều đó như một lẽ hiển nhiên dù trong gia đình, mọi người ít khi bàn luận về cụ, nhưng chúng tôi luôn ý thức được nguồn gốc dòng dõi của mình. Điều kỳ lạ là cả cụ ngoại, bà ngoại tôi đều hiếm khi kể chuyện về vua Hàm Nghi. Theo tôi được biết, ngay cả khi ngài còn sống, ngài cũng không mấy khi nhắc về quá khứ của mình với vợ con. Bà cụ cố tôi (bà Marcelle Laloë – vợ ngài) thậm chí không để ngài trò chuyện với các con bằng tiếng Việt. Có lẽ vì thế mà ngài đã không thể truyền lại được nền văn hóa Việt Nam của mình cho con cái nhiều hơn ngài muốn. Ngay cả khi tôi đặt câu hỏi thắc mắc, mọi người thường trả lời rất ngắn gọn và nhã nhặn: “Ta không biết!”. Thực ra, tôi hiểu, trong bối cảnh xã hội Algérie lúc bấy giờ, con cái của ngài buộc phải được giáo dục hoàn toàn theo lối Pháp để có thể hòa nhập. Chính vì vậy, bà cố tôi thường muốn để con cái nói tiếng Pháp. Có lẽ nhà vua cũng muốn dạy con học tiếng Việt nhiều hơn nữa, nhưng trước sức ép của xã hội và cuộc sống bị kiểm soát chặt chẽ, ngài đành chấp nhận để các con mình sống và được thừa nhận như những người Pháp thực sự.
Trong gia đình chị hẳn còn lưu lại nhiều kỷ vật từ thời vua Hàm Nghi?
Hiện tại, gia đình tôi chỉ còn giữ được một ít giấy tờ, đồ dùng cá nhân và một vài tác phẩm của ông. Thật sự rất đáng tiếc vì vào năm 1964, phần lớn gia sản và các tác phẩm nghệ thuật của ông để lại, đã bị ngọn lửa thiêu rụi trong một vụ hỏa hoạn tại Algérie trong thời kỳ chiến tranh.
Chị có thể chia sẻ về quá trình sưu tập và nghiên cứu tư liệu về vua Hàm Nghi đã diễn ra như thế nào, mọi thứ đã khởi đầu từ đâu?
Hành trình nghiên cứu về vua Hàm Nghi của tôi thực sự gắn liền với quá trình tôi làm luận văn Tiến sĩ tại trường Đại học Sorbonne, nơi tôi thực hiện luận văn Tiến sĩ về sự nghiệp nghệ thuật của ngài tại Algérie.
Tôi quyết định theo đuổi, tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Hàm Nghi, Empereur en exil, artiste à Alger” cho đề tài Thạc sĩ và luận văn Tiến sĩ của mình, chuyên ngành Lịch sử nghệ thuật và khảo cổ tại Đại học Sorbonne – Paris 4. Điểm khởi đầu không đâu xa lạ, mà chính là từ những ký ức của gia đình. Tôi đã dành nhiều thời gian để tìm kiếm những kỷ vật, giấy tờ, và các tác phẩm còn sót lại của cụ cố trong kho lưu trữ của gia đình mình. Thật may mắn, sau một vài tháng, tôi đã tìm thấy một số tư liệu còn lại sau một thời gian quá dài, và đây là những gì còn lại sau đám cháy năm 1964. Công việc đầu tiên và cũng là nền móng cho nghiên cứu, chính là việc tôi tự tay phân loại, sắp xếp lại hơn 2.500 tài liệu quý báu đó.

Khi được tiếp cận các kỷ vật của vua Hàm Nghi, chị có suy nghĩ và nhận định gì giữa sự khác biệt khi nghiên cứu với những gì lịch sử ghi chép?
Có một khoảng cách khá lớn giữa hồ sơ thuộc địa với những bức thư cá nhân của vua Hàm Nghi. Nhà cầm quyền Pháp khi ấy luôn theo dõi, coi ông như một mối đe dọa cần quản thúc chặt chẽ và mang tính chất lâu dài vì họ lo sợ những cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống lại chế độ thực dân do vua Hàm Nghi lãnh đạo sẽ xảy ra. Tuy nhiên qua 2.500 tài liệu mà tôi tiếp cận, tôi lại được hiểu thêm một chân dung khác về cụ cố của mình, mà theo tôi nghĩ, đó là một nghệ sĩ thực sự. Ông đã dành mọi sự quan tâm cho hội họa và điêu khắc thay cho chính trị. Qua nội dung những bức thư cá nhân của vua Hàm Nghi trao đổi với những người bạn cùng thời, có thể thấy trong thư, ông hoàn toàn không bàn luận gì về chính trị cả. Ở những lá thư đó, ông chỉ nói về nghệ thuật, kể chuyện đi vẽ tranh, điền dã ở những nơi thiên nhiên đẹp đẽ, chuyện ông đã tạc, nặn tượng như thế nào. Những lá thư trao đổi cá nhân này của vua Hàm Nghi có giá trị rất quan trọng, chúng biểu lộ thái độ sống của ông tại thời điểm đó. Trong thời gian bị lưu đày sống lưu vong, nhà vua đã kìm nén con người lãnh đạo tinh thần của một đất nước nơi mình sinh ra và được trao trọng trách lớn, ông đã phải luôn kìm nén cảm xúc và giữ gìn cốt cách của mình. Điều mà ông bộc lộ, có lẽ tất cả đều qua nghệ thuật.
Trong khoảng 150 bức tranh được trưng bày tại triển lãm có bao nhiêu bức mượn lại từ các bộ sưu tập bên ngoài, bao nhiêu bức gia đình còn lưu giữ?
Trong quá trình làm luận văn tiến sĩ, tôi đã tìm lại được 100 tác phẩm mà nhà vua Hàm Nghi đã cho hoặc tặng cho người thân và bạn bè. Điều này thật may mắn, số lượng tác phẩm chứng tỏ nghệ thuật gần như chiếm vị trí trung tâm của cuộc đời ông, đó là chưa kể phần lớn tác phẩm của ông đã hỏa hoạn thiêu rụi vào những năm 60 của thế kỷ 20, nếu không con số tác phẩm cũng sẽ khá ngạc nhiên.
Việc mượn hiện vật được lưu giữ tại các bảo tàng lớn tại Paris như Guimet, Cernuschi, Rodin hay từ các bộ sưu tập tư nhân là một phần không thể thiếu. Do không thể trưng bày toàn bộ, tôi và ông Adrien Bossard (Giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật châu Á tại Nice) đã phải cân nhắc kỹ để chọn ra những tác phẩm đặc sắc nhất. Các nhà sưu tập rất sẵn sàng ủng hộ vì họ hiểu tầm quan trọng của triển lãm này. Nếu không có biến cố hỏa hoạn vào thập niên 60, có lẽ chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một số lượng lớn các tác phẩm của vua Hàm Nghi còn nhiều hơn thế.

Trong quá trình tìm hiểu hành trình sống và làm việc của vua Hàm Nghi, chị đã đi qua những địa danh nào để tìm hiểu? Chị có cảm nhận gì đặc biệt khi tìm lại dấu tích của Biệt thự Gia Long?
Tôi đã đi từ kho lưu trữ tại Việt Nam (Huế, Hà Nội, Đà Lạt, Tp HCM)… cho tới Algérie và Pháp để thu thập các mảnh ghép về ông. Đặc biệt, tại Algérie, tôi đã dành nhiều tâm sức để tìm lại không gian sống của cụ cố của mình. Dù chưa tới được Villa des Pins (Biệt thự Đồi thông), nhưng tôi đã may mắn tìm thấy Biệt thự Gia Long tại El Biar. Đây là ngôi nhà mà ông tự tay đặt tên sau khi kết hôn để khẳng định nguồn cội Việt Nam giữa lòng viễn xứ. Chứng kiến tận mắt ngôi biệt thự do kiến trúc sư Pierre Auguste Guiauchain thiết kế, đây cũng là nơi lưu giữ những năm tháng cuối đời của vua Hàm Nghi, tôi thực sự bị choáng ngợp bởi những cảm xúc thiêng liêng và sự gần gũi với tổ tiên mình.
Là người trực tiếp nghiên cứu cuộc đời của vua Hàm Nghi, đâu là phát hiện khiến chị cảm thấy ấn tượng nhất?
Điều làm tôi ấn tượng nhất, không nằm ở những trang tài liệu, mà ở vị trí của vua Hàm Nghi trong trái tim người Việt. Trước đây, tôi và gia đình chỉ biết về ngài như một người thân trong dòng tộc. Tôi chưa bao giờ hình dung hết việc ông được tôn vinh như một biểu tượng của tinh thần kháng chiến và lòng yêu nước tại quê nhà. Quá trình làm luận án Tiến sĩ tại Sorbonne không chỉ giúp tôi hoàn thiện về mặt học thuật mà còn là hành trình giúp tôi hiểu thêm về chính cụ cố của mình. Tôi nhận ra rằng, sự kính trọng dành cho ông có lẽ là minh chứng hùng hồn nhất cho một nhân cách lớn.

NGHỆ THUẬT – HỘI HỌA VÀ ĐIÊU KHẮC
Được biết những ngày tháng ở Algérie, vua Hàm Nghi từng có cuộc triển lãm riêng vào năm 1926 tại Paris , chị có thể chia sẻ thêm về điều này?
Đúng vậy, vua Hàm Nghi đã từng triển lãm các tác phẩm của mình vào năm 1926 ở Paris, trong một phòng triển lãm. Nhưng thực ra đây không phải lần đầu tiên những tác phẩm của vua Hàm Nghi được triển lãm tại nước Pháp. Ngoài buổi ra mắt riêng tại Mantelet Colette 1926, ông còn tham gia hai triển lãm chung từ rất sớm vào năm 1904 tại Bảo tàng Guimet và năm 1909. Các tác phẩm nghệ thuật của ông đã âm thầm trong lòng Paris từ đầu thế kỷ 20 như thế.
Năm 1926, cũng đó cũng là thời điểm ra đời của bức Chiều tà, đây có phải là tác phẩm tiêu biểu của vua Hàm Nghi?
Có thể nói là như vậy. Bức tranh có tên gốc là “La Route De El Biar” (Trên đường El Biar), sáng tác vào năm 1915 tại Algérie, chất liệu sơn dầu. Sau cuộc triển lãm tại Mantelet Colette 1926, ông đã tặng nó cho một người bạn. Nó không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn có số phận đặc biệt, được nhà vua tặng bạn, rồi sau đó nổi tiếng qua cuộc đấu giá năm 2010.
Qua quan sát, chị thấy thói quen hội họa của nhà vua thường có điểm gì đặc biệt?
Ông là một người yêu thiên nhiên, những bức tranh thường có khổ nhỏ xinh để có thể dễ dàng mang theo trong những chuyến điền dã. Ông chủ yếu vẽ tranh sơn dầu hoặc phấn màu. Tuy nhiên, việc bảo quản chúng sau hơn một thể kỷ là thách thức lớn bởi tình trạng trên các bức tranh hiện tại không đồng nhất.

Năm 2016, chị cũng đã tổ chức triển lãm tranh Hàm Nghi tại Paris, khẳng định tầm vóc nghệ sĩ của vua Hàm Nghi, vậy triển lãm có điều gì khác biệt giữa triển lãm của năm 2016 và triển lãm của năm 2022?
Sự khác biệt lớn nhất, chính là về quy mô số lượng của tác phẩm và vị thế của vua Hàm Nghi lại một lần nữa được khẳng định. Năm 2016, 4 tác phẩm của vua Hàm Nghi xuất hiện trong một triển lãm chung có tên “Anywhere but here” cùng với các tác phẩm của các nghệ sĩ châu Á hiện đại và đương đại tại không gian nghệ thuật Beston Salon (Paris). Tới năm 2022, chúng tôi đã tổ chức được một không gian riêng biệt cho các tác phẩm của ông tại Bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở Nice. Với hơn 150 hiện vật, bao gồm tranh, tượng, tư liệu… được trưng bày, triển lãm năm 2022 là một cuộc đối thoại đầy đủ nhất giữa vua Hàm Nghi và công chúng. Người xem sẽ ngạc nhiên trước sự đa dạng trong bút pháp và tư duy tạo hình của ông. Nghệ thuật với ông không phải là cuộc dạo chơi, đó là sự dấn thân, khám phá và sáng tạo một cách nghiêm túc, bền bỉ, một nghệ sĩ lớn tuy rằng bước đầu ông dấn thân vào hội họa để hóa giải những nỗi niềm riêng.

Nguồn: https://archives.betonsalon.net/anywhere-but-here-678.html
Tại sao chị lại chọn tên triển lãm là “Nghệ thuật lưu vong” (L’art en exil), từ “lưu vong” này nên được hiểu như thế nào cho đúng tinh thần của nhà vua?
Cuộc sống lưu đày của nhà vua buộc ông phải sống xa quê hương, nhưng xét ra, ông cũng được đối đãi và bị kiểm soát trong khuôn khổ, được sống tự do trong một ngôi nhà tiện nghi, được đi đánh quần vợt, đi xem hát, đi săn, có bạn bè, được học vẽ, dạo chơi trong rừng, vẽ, làm nghệ thuật… Mọi thư từ của vua Hàm Nghi đều bị chặn, và ngược lại, việc nhận thư từ Đông Dương tới Algérie cũng bị giám sát chặt chẽ. Như vậy, “lưu vong” đối với vua Hàm Nghi không chỉ là khoảng cách địa lý mà còn là một trạng thái sống. Ông đã bị đẩy khỏi quê hương lúc còn quá trẻ và sống dưới sự quản thúc trong thời gian dài. Cho dù cố gắng thích nghi với đời sống phương tây, nhưng ông luôn ý thức và biểu hiện mình là một người con nước Nam. Trong không gian của hội họa và điêu khắc, ông được là chính mình, được tự do bày tỏ tình cảm với quê hương một cách kín đáo và tinh tế. Tôi gọi đây là “nghệ thuật của sự lưu đày”!

Phải chăng vì bị đặt dưới tầm mắt của chính phủ Pháp lúc đó mà nhà vua thường chọn cách “im lặng” về chính trị, từ thái độ sống cho tới tác phẩm?
Sự theo dõi của chính quyền Pháp là có thật, nhưng tôi tin rằng, đó cũng là một sự lựa chọn chủ động từ phía nhà vua. Ông đã không chọn trở thành một vị vua bù nhìn nghe theo thực dân Pháp, mà trong nghịch cảnh, ông chọn trở thành nghệ sĩ lưu vong. Ông không vẽ xã hội đương thời nên ta có thể diễn giải nghệ thuật của ông như một mong muốn được lánh xa chính trị.
Dường như thiên nhiên là chủ đề xuyên suốt trong tranh của vua Hàm Nghi. Phải chăng đây là cách Ngài biểu đạt nỗi niềm riêng, thưa chị?
Có thể nói rằng, các tác phẩm của ông chủ yếu thể hiện về thiên nhiên. Vua Hàm Nghi thể hiện cảm xúc về nỗi cô đơn của mình thông qua việc vẽ các tác phẩm phần lớn vắng bóng con người. Trên phương diện nghệ sĩ, ông quan tâm đến vẻ đẹp của thiên nhiên, và tìm kiếm những hiệu ứng ánh sáng, nhất là khi mặt trời lặn. Khi xem các bức tranh của ông, người ta khó phân biệt được đó là phong cảnh nước Pháp hay Algérie, ông vẽ rất tự nhiên không phân biệt nước nào, vẽ Pháp hay Algérie đều hiện lên dưới một bút pháp đồng nhất. Ông không vẽ một vùng đất cụ thể, điều ông quan tâm duy nhất, đó là vẻ đẹp của thiên nhiên.
Phong cách sáng tác của Vua Hàm Nghi có đặc điểm gì về kích cỡ và chất liệu? Tình trạng bảo quản của những di sản này hiện nay ra sao thưa chị?
Vua Hàm Nghi thường ưu tiên các tác phẩm có kích thước vừa và nhỏ, không có khổ lớn. Điều này rất dễ hiểu, bởi những bức tranh nhỏ gọn sẽ giúp ông mang theo dễ dàng trong các chuyến đi dã ngoại vẽ ngoài trời. Về chất liệu, ông chủ yếu sử dụng sơn dầu và rất điêu luyện với màu phấn và bột màu. Do thời gian đã trôi qua hơn một thế kỷ cùng với những biến động lịch sử, tình trạng bảo quản của các bức họa hiện nay khá đa dạng với nhiều mức độ hư hại khác nhau, đòi hỏi quy trình phục hồi và lưu trữ cẩn thận hơn.

Ít ai biết rằng vua Hàm Nghi từng là học điêu khắc của nhà điêu khắc Pháp Auguste Rodin. Theo chị, sự ảnh hưởng của vị bậc thầy này thể hiện như thế nào trong các bức tượng do nhà vua sáng tác?
Đúng vậy, trong thời gian bị quản thúc ở Algérie, vua Hàm Nghi đã học điêu khắc với nhà điêu khắc Pháp Auguste Rodin mỗi năm 3 tháng. Các tác phẩm điêu khắc của ông chịu nhiều ảnh hưởng từ thầy học của mình nhưng không phải là sự sao chép, mà ông luôn tìm sự khác biệt. Trong bức điêu khắc “Eva” của Rodin sáng tác năm 1881, pho tượng diễn tả Eva trong một cơ thể khỏa thân nhưng vặn vẹo, đau khổ, khuôn mặt cúi gằm, tay trái cầm quả đắng giơ cao, che một phần cơ thể và nửa bên mặt, tay phải vòng qua bụng, bám chặt eo như để che chắn. Còn pho tượng điêu khắc “Eva: Femme à la coloquinte ” (tạm dịch Eva: Người đàn bà cầm trái đắng) sáng tác năm 1925 của vua Hàm Nghi mang vẻ tĩnh lặng, u uẩn. Người đàn bà khỏa thân, đầu tựa vào cánh tay phải gập lại, che toàn bộ mặt, tay trái thõng xuống, cầm quả coloquinte (trái đắng), mái tóc xõa sau lưng. Việc lựa chọn hình ảnh trái đắng như một cách chơi chữ của ông không chỉ là kỹ thuật tạo hình mà còn là cách chơi chữ tinh tế về thân phận lưu đày của chính ông, Qua tác phẩm này, vua Hàm Nghi đã khẳng định bản sắc của một nghệ sĩ có tư duy sáng tạo độc lập.


Liệu công chúng Việt Nam có thể mong đợi một ngày được tận mắt chiêm ngưỡng những kỷ vật và tác phẩm này ngay tại quê nhà không, thưa chị?
Tôi thực sự mong mỏi điều đó sẽ sớm thành hiện thực. Việc tổ chức một triển lãm với đầy đủ các hiện vật và tác phẩm của vua Hàm Nghi tại Việt Nam là ưu tiên hàng đầu của tôi trong thời gian tới. Đây sẽ là dịp để mọi người thấu hiểu hơn về con người và nhân cách của vua Hàm Nghi, một người con nước Việt chưa bao giờ ngừng hướng về nguồn cội dù ở cách xa nửa vòng trái đất.
Cuốn sách “Hàm Nghi – Hoàng đế lưu đầy, nghệ sĩ ở Alger” được xem là một công trình đồ sộ về một vị vua tha hương, chị đã gửi gắm những gì trong hơn 500 trang sách đó?
Đây là bản in hoàn chỉnh từ luận án Tiến sĩ của tôi tại Đại học Sorbonne. 550 trang sách là câu chuyện về cuộc đời vua Hàm Nghi như một hành trình song song: một vị vua chịu sự quản thúc của một thân phận bị lưu đày tới khi mất vẫn chưa được một lần về cố hương và một người nghệ sĩ tự do trong tâm hồn. Dựa trên nguồn sử liệu thuộc địa khách quan và đặc biệt là những tư liệu cá nhân quý giá của gia đình, cuốn sách hy vọng sẽ mang đến cho độc giả một cái nhìn đa chiều, đầy đủ nhất về tầm vóc và cốt cách của cụ cố tôi – một nhân vật độc đáo trong dòng chảy lịch sử và nghệ thuật.
Được biết một nữ văn sĩ người Nga Tatyana Shchepkina Kupernik đã từng kể lại rất chi tiết về cuộc hội ngộ với vua Hàm Nghi tại Algérie, chị có biết tác phẩm này không?
Chắc chắn rồi, tôi đã tìm đọc tác phẩm này ngay khi bắt đầu hành trình nghiên cứu! Những trang viết của bà Tatyana mang lại một góc nhìn rất nhân văn và tinh tế về cụ cố của tôi. Qua con mắt của một nữ văn sĩ, chân dung vua Hàm Nghi hiện lên vừa cô độc, vừa kiêu hãnh, giúp tôi hiểu thêm về mặt cảm xúc mà các hồ sơ lưu trữ khô khan không thể diễn tả hết.

Những người con cháu của vua Hàm Nghi ở Pháp chắc hẳn vẫn luôn giữ mối liên hệ mật thiết? Gia đình chị có ngày nào trong năm để cùng tụ họp, thắp nén hương hay ôn lại những kỷ niệm về vị vua – người cha, người ông của mình không?
Hậu duệ của Hàm Nghi khá đông và tôi đều biết họ. Chúng tôi không tổ chức lễ tưởng niệm ông (tổ tiên của mình) vì chúng tôi không được thừa hưởng nền văn hóa thờ tổ tiên, chúng tôi không biết nghi thức nào. Ở Pháp, nhân dịp (Lễ các thánh) ngày 01/11 hàng năm, các thành viên trong gia đình chúng tôi tới viếng mộ Hàm Nghi để tưởng nhớ ông. Đây là khoảnh khắc thiêng liêng để chúng tôi tĩnh tâm, chăm sóc nơi yên nghỉ của ông.
Chị có hài lòng với những gì mình đã tìm lại được cho đến nay, và đâu là kế hoạch tiếp theo của chị trên con đường nghiên cứu về vua Hàm Nghi?
Những gì tôi tìm được mới chỉ là một phần trong cuộc đời của ông. Tôi vẫn tiếp tục kiếm tìm những tác phẩm và tư liệu mà vua Hàm Nghi đã trao tặng cho những người bạn cùng thời, những di vật hiện vẫn còn rải rác trong các bộ sưu tập tư nhân. Đó là một cuộc tìm kiếm đầy thử thách nhưng cũng đầy cảm hứng, giúp tôi tiếp tục hoàn thiện bức chân dung về cụ cố mình cho thế hệ mai sau.

Chị có thấy tính cách của mình giống cụ cố ở điểm nào không?
Tôi tìm thấy sự kết nối sâu sắc với cụ cố qua những dòng thư tay cũ. Nếu phải tìm một điểm chung rõ rệt nhất, có lẽ là tình yêu dành cho Việt Nam. Với nhà vua, Việt Nam là cội nguồn, là quê hương, đất nước, là nơi chôn rau cắt rốn mà ông luôn khao khát quay về. Với tôi, tình yêu đó được chuyển hóa thành sự thôi thúc phải đưa nghệ thuật của ông đến với công chúng, bởi tôi hiểu rằng, hội họa chính là tâm hồn, là phần quan trọng nhất trong cuộc đời lưu lạc của ông. Hành trình trở về Việt Nam để nghiên cứu về ông đã giúp tôi hiểu rằng, tình yêu quê hương của ông dường như luôn ở trong tôi, rất mãnh liệt. Việc được theo dấu chân của ông, luôn là những trải nghiệm đầy cảm xúc với tôi.
Một câu hỏi cuối cùng, có bao giờ chị nghĩ mình sẽ trở về Việt Nam, về với cố đô Huế để sinh sống lâu dài hay không?
Tôi rất thích tới Việt Nam, tới quê hương của tổ tiên mình. Việt Nam như ngôi nhà thứ hai của tôi. Tuy nhiên, vì cuộc sống và gia đình hiện tại của tôi đều ở Pháp, nên tôi không nghĩ mình có thể sinh sống toàn thời gian ở Việt Nam. Dù vậy, trái tim tôi luôn hướng về nơi này và chắc chắn tôi sẽ còn quay trở lại nhiều lần nữa để tiếp tục hành trình gắn kết với nguồn cội.
Xin chân thành cảm ơn chị đã nhận lời phỏng vấn.
Vui lòng dẫn nguồn cụ thể khi chia sẻ bài viết từ Artinsight. Khi sử dụng bài viết cho mục đích thương mại, liên hệ qua địa chỉ artinsight.vn@gmail.com.
Donate to Artinsght: Để Artinsight có thể xuất bản nội dung chất lượng, duy trì và phát triển bền vững, đóng góp nhiều giá trị, hãy donate cho chúng tôi tại đây: DONATE. Chân thành cảm ơn.
